Saturday, 3 January 2015

724. YÊU CẦU PHẢN TỐ VÀ THỜI ĐIỂM THỰC HIỆN QUYỀN QUYỀN PHẢN TỐ TỪ QUY ĐỊNH CỦA BLTTDS

YÊU CẦU PHN TỐ THI ĐIM THỰC HIN QUYỀN QUYN PHẢN T T QUY ĐỊNH CỦA BLTTDS


TS. Nguyễn Minh Hằng - Học viện Tư pháp
Văn Nâu - TAND huyện Lạng Giang, Bắc Giang


B luật t tụng dân s đã đưc Quốc hội c Cộng hoà hội chủ nghĩa
Việt Nam khoá XI (BLTTDS), k họp thứ 5 thông qua ngày 15 tháng 6 năm
2004 hiu lực từ ngày 01/01/2005, tại điểm c, khoản 1 Điều 60 quy định về quyn, nghĩa v của bị đơn ghi nhn: B đơn quyền đưa ra yêu cầu phản tđối với nguyên đơn nếu liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn hoặc đề nghị đi trừ vi nghĩa vụ nguyên đơn yêu cu”. Quyền yêu cầu phn tố của bị đơn cũng như thủ tục phản t đưc tiếp tục khẳng đnh tại Điều 176 Điu
178 BLTTDS.Quyn phản tố đã đưc quy đnh trong Pháp lệnh th tục giải quyết các vụ án dân s. Quy định này tạo sở pháp để bo vệ quyền tố tụng
của bị đơn, đm bảo quyền t định đoạt của đương sự, tạo điều kiện cho việc giải quyết nhanh, toàn diện các yêu cầu của đương sự trong quá trình giải quyết các tranh chấp dân sự. Tuy nhiên, từ thc tiễn xét xử, việc áp dụng quy định tại Điều 176, Điều 178 BLTTDS về việc xác định yêu cầu phản tố, thời đim thc hiện quyn phản tố đã đang đt ra những quan điểm tranh cãi liên quan đến cách hiểu vận dng luật tại các Tòa án địa phương.
1. Xác định yêu cầu phản tố t quy định tại Điều 176 ca BLTTDS
Khon 2 Điều 176 BLTTDS quy đnh:
Yêu cu phản t của b đơn đối với nguyên đơn được chấp nhận khi có một trong các trưng hợp sau:
a) Yêu cầu phản tố để tr nghĩa v với yêu cầu của nguyên đơn;
b) Yêu cầu phản t được chấp nhận dẫn đến loại trừ việc chp nhận một phần hoặc toàn b yêu cầu của nguyên đơn;
c)  Gia yêu cầu phn tố yêu cầu của nguyên đơn s liên quan với nhau nếu đưc giải quyết trong cùng mt vụ án thì làm cho vic giải quyết vụ án đưc chính xác và nhanh hơn”.
Ngày 12/05/2006 Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số
02/2006/NQ-HĐTP hưng dn thi hành c quy định trong phần thứ 2 thủ tc giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thm của Bộ lut tố tụng dân sự, trong đó ng dẫn về quy định ti Điu 176 tại tiểu mục 11 của Ngh quyết này. Tuy nhiên, việc hiểu để xác định phân biệt gia yêu cầu phản tố, yêu cầu phản bác vẫn thực s lúng túng.
Vấn đ vưng mắc xuất phát chính từ việc chưa khái niệm cụ thể nào
về yêu cu phản tố yêu cu phản bác trong tố tụng dân s đưc ghi nhận trong luật. Do những cánh hiểu khác nhau, dn đến cách vn dụng cũng khác nhau. Tại mc 11 phần I Nghị quyết s 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng Thẩm phán T án nhân dân tối cao quy định: Được coi yêu cầu phản tố của bị đơn đối với yêu cầu ca nguyên đơn, nếu yêu cầu đó độc lập, không cùng v yêu cầu nguyên đơn yêu cầu Toà án giải quyết. Tng hợp bị đơn yêu cầu cùng v yêu cầu của nguyên đơn (như yêu cầu Toà án không

chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn hoặc chỉ chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn), thì đây ý kiến ca bị đơn đi với yêu cầu của nguyên đơn”.


* dụ 1: Nguyên đơn A có đơn khởi kin yêu cầu bị đơn B phải trả li tiền thuê nhà còn nợ của năm 2005 là 05 triệu đồng. B đơn B có yêu cầu đòi nguyên đơn A phi thanh toán cho mình tiền sa cha nhà bị hỏng tiền thuế s dụng đất bị đơn đã np thay cho nguyên đơn
03 triệu đồng.

Theo hưng dẫn trên thì trưng hợp này u cầu ca bị đơn B đưc coi yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn A đưc Toà án chấp nhận yêu cầu ca bị đơn B không cùng vi yêu cầu của nguyên đơn nguyên đơn yêu cầu Toà án gii quyết yêu cầu ca bị đơn B đưa ra để tr nghĩa vụ vi yêu cầu ca nguyên đơn.


* dụ 2: Nguyên đơn C đơn khi kiện yêu cu Toà án công nhn quyền s hu đối với một xe ô buộc bị đơn D trả lại cho mình xe ô đó. Bị đơn D yêu cầu Toà án không công nhận xe ôtô này thuộc shu của C.

Như vậy, khác với dụ 1 tng hợp ti ví d 2, yêu cầu của bị đơn D không đưc coi yêu cầu phn tố đối với nguyên đơn C vì u cầu của bị đơn D cùng với yêu cầu của nguyên đơn mà nguyên đơn yêu cầu Toà án gii quyết.
Dấu hiệu để xác định yêu cầu phản tố phân biệt với yêu cầu phản bác từ thc tiễn t xử tn tại hai cách hiểu khác nhau.
Cách hiểu th nht dựa vào việc xác định quan h pháp luật. Theo quan
đim y, sở để vận dụng các quy định của điều luật về yêu cầu phản tố cn xác đnh chính từ bản chất ca quan hệ pháp luật tranh chấp căn cứ theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và ý kiến của bị đơn đối với yêu cu của nguyên đơn. Thc tiễn gii quyết các tranh chp n sự, để giải quyết vụ án đưc nhanh chóng và đạt kết quả tốt trong nhiều trưng hp ngoài việc giải quyết quan hệ pháp luật chính, Tòa án phải xem xét giải quyết các quan hệ pháp luật phái sinh vic gii quyết quan h pháp luật chính liên quan chịu ảnh ng trc tiếp bởi quan hệ pháp lut phái sinh. Quan h pháp lut chính của vụ án đưc xác định da trên yêu cầu của nguyên đơn bn chất pháp của yêu cầu của nguyên đơn. Quan hệ pháp luật phái sinh đưc xem xét dựa trên yêu cầu ca bị đơn hoặc ca ngưi quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Phân biệt yêu cầu phản tố và yêu cầu phn bác chính từ việc xác định yêu cầu ca bị đơn (quan hệ pháp luật phái sinh) không cùng nằm trong quan hệ pháp luật với yêu cầu của nguyên đơn. Xem xét quy đnh tại khoản 2 Điều 176 BLTTDS:
- Trường hợp thứ nhất: Yêu cầu phản tố để bù tr nghĩa vụ với yêu cu của nguyên đơn là tng hợp b đơn nghĩa vụ đối với nguyên đơn nguyên đơn cũng nghĩa vụ đi với b đơn. Do đó, bị đơn yêu cầu Toà án giải quyết

để trừ nghĩa v họ phi thực hiện theo yêu cầu của nguyên đơn. Trưng hợp này đưc thể hiện trong dụ 1 trên.
- Trường hợp th hai: u cầu phản tố của bị đơn dẫn đến loại tr vic chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn là tng hp bị đơn yều cầu phản tố lại đối vi nguyên đơn nếu u cầu đó đưc chp nhận, thì loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn b yêu cầu của nguyên đơn không căn  c.
* dụ 3: A chiếc xe ôtô thuộc s hu riêng đã bán cho C nhưng A i với B (con A) cho C thuê mỗi tháng 05 triệu đồng. Sau đó A chết, B khởi kiện yêu cầu C phải thanh toán tiền thuê xe trong một năm qua là
60 triệu đồng. C có yêu cầu Toà án công nhn quyn s hu xe ôtô tranh chp. Trong trường hợp này nếu Toà án chấp nhận yêu cầu phản tố của C t dn đến không chấp nhận toàn b yêu cầu của B đòi C thanh toán tiền thuê xe ôtô C không thuê xe của A mà thc chất chiếc xe trên A đã bán cho C nên C toàn quyn s hu.

- Trường hợp thứ ba: Gia yêu cầu phản tố và u cầu ca nguyên đơn sự liên quan với nhau nếu đưc giải quyết trong cùng một vụ án làm cho việc giải quyết vụ án đưc chính xác nhanh hơn.


* dụ 4: Ch M khởi kiện u cầu anh N phải tr cấp nuôi con P một tháng 300 ngàn đng. Anh N yêu cầu Toà án xác định P không phải con của anh. Trưng hợp này yêu cầu ca anh N yêu cầu phản tố

Thực tiễn xét xử lại tồn tại mt quan đim khác v việc xác định yêu cầu phản tố. C thể là, không căn cứ việc xác đnh quan h pháp luật chính (quan hệ của nguyên đơn) hay quan hệ pháp luật phái sinh (quan h của bị đơn), khi xác đnh yêu cầu phản tố chỉ cần da vào yếu tố yêu cầu của bị đơn nhằm trừ nghĩa v với nguyên đơn hay nói cách khác yêu cầu của bị đơn không cùng với yêu cầu ca nguyên đơn.


* dụ 5: A yêu cầu B bồi thường thương tích, B yêu cầu phản tố A trả n. Trong trưng hợp này yêu cầu ca B cũng được chấp nhận yêu cầu phn t thc chất yêu cầu phn tố của bị đơn nhằm tr nghĩa vụ đối vi nguyên đơn.

Chúng tôi cho rng, cần linh hot khi xác định yêu cầu phản tố trong tng trưng hp c thể. Yếu tố quan trọng và rõ ràng để xác định yêu cầu phản tố bắt đầu từ quan hệ pháp luật như quan điểm 1. Ví dụ: A khi kiện yêu cầu B đòi quyền sử dụng đất, B (b đơn) cho rằng đất này đã nhận chuyển nhưng của A đề nghị Tòa án công nhận hp đồng chuyển nhưng quyền sử dng đất. Như vậy, quan hệ pháp lut A khởi kiện quan h tranh chấp quyn s dng đất. Quan hệ B yêu cầu giải quyết quan hệ tranh chấp hp đồng chuyn nhưng quyền s dụng đất, đây là dấu hiệu dễ dàng để xác đnh yêu cầu phản tố. Tuy nhiên thực tiễn xét xử, rt nhiều trưng hợp không thể căn cứ vào dấu hiệu hai

quan hệ khác biệt để xác định yêu cầu phản tố. Ví dụ: A khởi kiện đòi nhà cho thuê, B (bị đơn) yêu cu A thanh toán tiền sa chữa nhà và tiền thuế nộp cho nhà nước. Mặc yêu cầu ca B không làm phát sinh quan hệ pháp luật phái sinh (vẫn thuộc quan h tranh chấp hợp đồng thuê nhà ), tuy nhiên yêu cầu của B yêu cầu đối trừ nghĩa v với yêu cu ca nguyên đơn, vy trưng hợp này phải xác định yêu cầu phản tố. Vì vy, để thống nhất áp dng trong thực tiễn xét xử cần có s đồng nhất quan đim về cách hiểu tổng hợp trong c hai quan điểm trên khi áp dng Điu 176 BLTTDS.
2. Xác định chủ thể quyền yêu cầu phản tố và hình thc thc hiện quyền phản tố
Khi xác đnh yêu cu phản tố, Toà án không ch gp khó khăn trong việc
xác định các yêu cầu phản tố mà việc BLTTDS chưa quy định hay có quy đnh nhưng chưa dẫn đến việc áp dụng cũng khác nhau. Hình thức ghi nhn yêu cầu phn t của bị đơn đưc thể hiện trong bản t khai, trong biên bản lấy lời khai hay ngưi yêu cầu phản t phải làm đơn đề nghị giải quyết. Theo quy định tại Điu 178 BLTTDS: Th tục yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập đưc thực hiện theo quy định của Bộ luật này về thủ tục khi kiện của nguyên đơn. Cụ thể hơn tại tiểu mc 12.1 mc 12 phần I Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hưng dẫn: Thủ tục yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lp đưc thc hin n thủ tục khởi kiện của nguyên đơn quy đnh tại các Điu 164, 165, 166, 167, 168, 169 170 của BLTTDS ng dn tại các mc 4, 5, 6, 7 và 8 phần I Nghị quyết này.
Như vậy, mc dù đã hưng dẫn cụ th, tuy nhiên trong quá trình giải quyết có một số Toà án không thc hiện theo ng dn trên mà vẫn chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn đưa ra trong các bản tự khai, biên bản lấy li khai,
biên bản đối chất thm chí trong biên bản hoà giải. Chúng tôi thiết nghĩ khi vấn đề trên đã đưc quy đnh rõ thì trong quá trình Toà án giải quyết vụ án cần phải thc hiện theo đúng quy định thống nhất áp dng tất cả các Tòa án địa phương.
Về chủ thể thực hiện quyền phản tố. Theo quy định tại điểm c khoản 1
Điều 60 BLTTDS, bị đơn đưc Đưa ra yêu cầu phn tố đối với nguyên đơn nếu liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn hoc đề nghị đối trừ với nghĩa vụ nguyên đơn yêu cầu”. Theo quy đnh này thì yêu cầu phản tố chỉ đưc thực hiện khi ch khi bị đơn yêu cầu đối vi nguyên đơn. Trong trưng hợp ngưi đại diện theo uỷ quyền của bị đơn tham gia t tụng trong vụ án có yêu cầu phản tố đi với nguyên đơn thì Toà án gii quyết như thế nào. Giả sử khi nhận đưc thông báo về việc thụ lý vụ án, bị đơn đưc xác đnh có yêu cầu phản tố đã uỷ quyền cho ngưi khác theo đúng thủ tục để tham gia tố tụng tại T án và toàn quyn thay mt b đơn quyết định các vấn đề liên quan trong vụ án. Trong trưng hợp này đã rất nhiều T án chấp nhận yêu cầu phn tố của ngưi đại diện theo ủy quyền nhưng cũng có nhng T án không chấp nhận cho rằng để thc hiện yêu cầu phản tố bị đơn phải là ngưi trực tiếp u cầu. Ngưi đại diện theo y quyền không quyền yêu cầu phản tố họ không phải là bị đơn mà ch ngưi đại diện theo uỷ quyền của bị đơn. Chúng tôi cho rằng, không th đặt quy đnh ti Điu 60 BLTTDS độc lập mà phi đt trong mối liên

hệ với các quy định khác của BLTTDS chế định y quyn đưc quy định trong Bộ luật dân sự. Khi tham gia tố tụng, đương sự đưc quyền ủy quyền cho ngưi khác đại din thay mặt mình. Điều 74 BLTTDS xác định: 1. Người đại diện theo pháp luật trong tố tụng n sự thc hiện các quyền nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự mà mình đi diện. 2. Người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân s thc hiện các quyền, nghĩa vụ t tng dân s theo nội dung văn bản ủy quyền”. Như vậy, cần căn cứ vào văn bản ủy quyền để xác định quyền đưc thc hiện yêu cầu phản tố của chủ thể ngưi đại diện theo ủy quyn.
3. n về thi điểm thc hiện quyn phản tố
Nghiên cứu các quy định của BLTTDS, chúng tôi không thấy quy đnh về thời đim thực hiện quyền phản tố. Chính vì quy định chung chung nên việc xác định thời điểm thc hiện yêu cầu phn tố từ thực tiễn xét xử tn tại các quan đim khác nhau:
* Quan điển thứ nht cho rằng: Áp dụng quy đnh tại Điều 175 khoản 1
Điều 176 BLTTDS thời hn thực hiện quyền phản t đưc xác định 15 ngày kể từ ngày nhận đưc thông báo, trưng hp bị đơn do xin gia hạn căn cứ thì thi hn tối đa để thc hiện quyn phn tố không quá 30 ngày. Quan đim này xuất phát t cách hiu về khoản 1 Điều 176 BLTTDS: “Trong thời hạn
15 ngày k t ngày nhận đưc thông báo  cùng với vic phải nộp cho Toà án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cu của nguyên đơn, bị đơn quyền yêu cầu phản tố đi với nguyên đơn.” Trong trường hp cần gia hạn thì người được thông báo phải đơn xin gia hn gi cho Toà án nêu do; nếu việc xin gia hạn  là có căn cứ thì Toà án phải gia hn, nhưng không quá 15 ngày.” (Điều 175 BLTTDS). Xác định thời điểm thực hiện quyền phn tố và chp nhận yêu cầu phn tố của bị đơn trong vụ án còn liên quan đến việc tính thời hạn giải quyết vụ án iu 179 BLTTDS). Do đó, trong trưng hợp Tòa án nhận đơn yêu cầu phản tố của bị đơn để gii quyết trong cùng một vụ án, thì ngày thụ lý v án để tính thời hạn chun bị t xử vụ án đưc xác định như sau:
Trưng hp bị đơn đưc miễn hoặc không phải nộp tiền tm ng án phí, thì ngày thụ vụ án ngày T án nhận đơn về yêu cầu phản tố của bị đơn cùng các tài liệu chng kèm theo. Trưng hợp b đơn phải nộp tiền tm ng án phí, thì ngày thụ lý vụ án là ngày bị đơn np cho Toà án biên lai np tiền tạm ứng án phí (mục 12 phần I Ngh quyết số 02/2006/NQ-TP ngày 12/5/2006 của Hội đng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.)


* Ví dụ 6: Ngày 15 tháng 3 năm 2010 Toà án thụ lý v án theo đơn khởi kiện của nguyên đơn A. Cùng ngày Toà án đã tiến hành thông báo vvic thụ vụ án cho b đơn B biết. Sau khi nhn được thông báo, ngày
30 tháng 3 năm 2010, b đơn B đơn yêu cầu phản t đối với nguyên đơn A. Toà án tiến hành thủ tục xem xét đơn yêu cu phản tố. Ngày 15 tháng 4 năm 2010 b đơn B nộp cho Toà án biên lai np tiền tạm ng án phí. Trong trường hợp này ngày Toà án th lý vụ án được xác định lại ngày 15 được tháng 4 năm 2010. Trong tường hợp bị đơn không phải nộp tiền tm ng án phí, thì ngày th v án được xác định lại ngày ngày 30 tháng 3 năm 2010.

* Quan đim thứ hai lại cho rằng theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 60  khon 1 Điều 176 không giới hn thi gian tối đa để bị đơn thc hiện quyền phản tố, nên trong trưng hp này thể hiểu yêu cầu phản t của bị đơn đưc thực hiện cho đến trưc khi Toà án m phiên toà thm. Việc Toà án chấp nhận trong trưng hp này vẫn đm bảo quyền của đương sự quy định tại Điều 4 Điều 5 của BLTTDS trong tưng hợp này Toà án phải tính lại thi hn chuẩn bị xét xử quy định tại Điều 179 ca BLTTDS.


* d 7:  Ngày 02 tháng 01 năm 2010 Toà án th vụ án theo đơn khởi kiện của A. Cùng ngày Toà án đã tiến hành thông o về việc th vụ án cho bị đơn B biết. Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án chuẩn bị ra quyết định đưa v án ra xét x mở phiên toà thẩm, thì ngày
10 tháng 4 năm 2010 b đơn B   đơn yêu cầu phn tố và thực hin đy
đủ thủ tục yêu cầu phản tố. Trường hợp này đưc chấp nhn b đơn làm đầy đủ thủ tục phản tố pháp luật không quy đnh cấm.

Quan đim thứ ba cho rằng do quy đnh tại điểm c khon 1 điều 60 khoản 1 Điu 176 không ràng giới hạn thời đim thực hiện quyền phản tố của bị đơn nên bị đơn vn có quyền đưc yêu cầu phản tố tại phiên toà sơ thm. Khi bị đơn đưa ra yêu cầu phn tố ti phiên tòa, Toà án cn xem t hai căn c: đó yêu cầu phải tố của bị đơn đã đưc đưa ra trưc đó chưa, nếu bị đơn đã yêu cầu T án đã n định cho bị đơn nhưng bị đơn vẫn không thc hin đầy đủ yêu cu phản tố thì không chấp nhận, còn nếu trưc đó bị đơn chưa đưa ra tại phiên t bị đơn đưa ra yêu cầu phải tố thì trong trưng hp này Hội đng xét xử phải chấp nhận, nếu không chấp nhận dẫn đến việc b lọt yêu cầu của đương sự trong vụ án.


* dụ 8: A và B cùng ch ca hàng đại đăng kinh doanh. A
bán cho B thóc giống đã đưc B thanh toán tiền hàng còn n li
30.000.000 đồng. Sau khi mua v, B lại bán cho các hộ dân số thóc trên nhm kiếm li nhuận. Đến thi hạn thanh toán B không thanh toán. A khởi kin B ra Toà án giải quyết buộc B phải trả số tin còn thiếu. Trong quá trình Toà án giải quyết B không đng ý vi yêu cầu của A với do A đã bán thóc giống kém chất lượng. Toà án ra quyết định đưa vụ án ra xét x. Tại phiên toà B đưa ra yêu cầu phn tố đề nghị Toà án giải quyết buc A phải trách nhiệm bồi thường cho B vì do A n thóc ging kém chất lượng dn đến B mua v bán cho dân làm cho việc gieo cấy của các h dân sản lưng thấp có sự kim tra xác nhận của quan chuyên môn và biên nhận thanh toán bồi thường của B đối với các hộ n số tiền là 50.000.000 đồng, trong đó có 30.000.000 đng tiền thóc giống ca thanh toán 20.000.000đ thiệt hại phát sinh.

Theo chúng tôi, trong khi chưa quy định thống nhất về thời điểm thực hiện quyn phản tố t quan đim thứ hai có cơ s để áp dụng. Mc theo quan

đim 1, Điều 175 khoản 1 Điều 176 có quy đnh Cùng với vic phải nộp cho Toà án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, b đơn quyền yêu cầu phản tđối với nguyên đơn”. Tuy nhiên, điều luật chỉ quy định về quyền phn tố không quy đnh chế tài để thc hiện quyền này trong thi hạn cụ thể, vì vậy không có cơ s để ấn định thời hạn 15 ngày hay 30 ngày theo như quan điểm 1. Chúng tôi cũng không đng tình vi quan điểm thứ 3, mc thực tế vẫn được một số Toà án vận dụng giải quyết nhưng việc chp nhận yêu cầu phản tố tại phiên tòa trên s dẫn đến hệ quả vụ án bị kéo dài do phải tính lại thời hạn chuẩn bị xét xử. Đồng thi tại phiên toà, khi Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu phản tố của b đơn thì phi hoãn phiên toà nhưng không có căn cứ để hoãn phiên toà thời hn hoãn phiên toà không đảm bảo theo quy định tại Điu 208 của BLTTDS do phải tính lại thi hạn chuẩn bị xét xử. Mc từ trưc đến nay quyết định hoãn phiên toà đưc các Toà án vận dụng khác nhau, thậm c việc vận dụng và ra quyết định hoãn phiên toà không đúng quy định của pháp luật nhưng không một điều luật nào quy định v quyền, th tục, thời hạn kháng cáo, kháng ngh khiếu nại đối vi quyết đnh hoãn phiên toà. Bên cạnh đó, điều kiện để xem xét yêu cầu phản tố ca bị đơn, bị đơn phải có đơn yêu cầu phải làm thủ tục phản tố theo quy định tại Điều 178 BLTTDS, tại phiên tòa bđơn mới đưa ra yêu cầu phản tố, vì vậy không đáp ứng đưc điều kiện về thủ tục phản tố theo quy đnh của BLTTDS.
Để thng nhất việc áp dng pháp luật khi sa đổi B luật tố tụng dân s
chúng i cho rằng sẽ khoa hc hơn nếu sa đổi quy đnh tại khoản 1 Điều 176 theo hưng: Cùng với vic phải np cho Toà án văn bản ghi ý kiến của mình đối vi yêu cầu của người khởi kiện thì bị đơn có quyền yêu cầu phn tố đối với nguyên đơn trong thi hạn 15 ngày kể t ngày nhn được thông báo thụ vụ án. Trong trường hp cần gia hạn tngưi được thông báo phải có đơn xin gia hạn gi cho Toà án nêu lý do; nếu vic xin gia hạn   căn cứ thì Toà án phải gia hn, nhưng không quá 15 ngày”./.

723.Phân định ranh giới giữa nghĩa vụ chứng minh và trách nhiệm chứng minh trong Tố tụng dân sự

TS Nguyễn Minh Hằng – Trưởng Bộ môn Tranh tụng dân sự, Học viện Tư pháp
Tại khoản 2 Điều 85 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) (có hiệu lực từ 01/01/2012) đã ghi nhận: Trong các trường hợp do Bộ luật này quy định, Thẩm phán có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp để thu thập tài liệu, chứng cứ. Như vậy, so với khoản 2 Điều 85 của BLTTDS năm 2004, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS đã bỏ quy định: Trong trường hợp đương sự không thể tự mình thu thập được chứng cứ và có yêu cầu thì Thẩm phán có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp thu thập chứng cứ. Việc bỏ quy định đương sự không thể tự mình thu thập chứng cứ và có yêu cầu mới là điều kiện để Tòa án thu thập chứng cứ, đặt ra những vấn đề tranh cãi cần thống nhất về cách hiểu khi áp dụng trong thực tiễn xét xử liên quan đến quan niệm về nghĩa vụ chứng minh hay trách nhiệm chứng minh của Tòa án (TA), Viện kiểm sát (VKS). Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin được trao đổi xung quanh quan điểm về việc chứng minh của các chủ thể chính trong tố tụng dân sự là đương sự và TA, VKS.
"Chứng minh” dùng để chỉ dạng hoạt động phổ biến của con người trong đời thường (ví dụ như chứng minh khi tranh luận trong các cuộc hội thảo, chứng minh khi phát biểu bảo vệ quan điểm trên các diễn đàn...) nhằm "làm cho thấy rõ là có thật, là đúng bằng sự việc hoặc bng lý lẽ hoặc dùng suy luận logic vạch rõ một điều gì đó là đúng"[1]. Trong thế giới khách quan luôn tồn tại nhiều sự vật, hiện tượng khác nhau đòi hỏi con người phải nhận thức và đánh giá. Ở mỗi sự vật, hiện tượng lại có nhiều đặc tính khác nhau, có những đặc tính có thể nhận biết một cách nhanh chóng, rõ ràng bằng các giác quan, nhưng thực tiễn cũng tồn tại những đặc tính không thể nhận biết ngay mà phải trải qua một quá trình tư duy, giải thích, móc nối các sự kiện để đi đến được kết luận và việc đầu tiên là phải đưa ra những giả thuvết để định hướng tư duy, sau đó tổng hợp các sự kiện khách quan để có thể đi đến kết luận cuối cùng. Quá trình giải quyết giả thuyết bằng cách tư duy, logic các sự kiện đó chính là chứng minh. Quá trình chứng minh diễn ra liên tục, trong mọi mặt của đời sống xã hội và nó là động lực cho sự phát triển, khám phá tìm tòi.
Trong tố tụng dân sự, chứng minh cũng là một dạng hoạt động, nhưng không phải là hoạt động trong đời thường mà là hoạt động tố tụng, cụ thể là hoạt động sử dụng chứng cứ với mục đích tái hiện lại trước TA vụ việc dân sự đã xảy ra trong quá khứ một cách chính xác và tỉ mỉ nhất có thể có, qua đó, Tòa án có thể khẳng định có hay không có các sự kiện, tình tiết khách quan làm cơ sở cho yêu cầu hay phản đối của các bên đương sự trong vụ, việc dân sự. Tuy nhiên, hoạt động sử dụng chứng cứ trong tố tụng dân sự không thể được tiến hành một cách tùy tiện theo ý chí chủ quan của TA hay của các chủ thể tham gia tố tụng mà phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về sử dụng chứng cứ thông qua các hoạt động tố tụng cụ thể, bao gồm hoạt động cung cấp chứng cứ, thu thập chứng cứ, nghiên cứu chứng cứ và đánh giá chứng cứ. Tất cả các hoạt động này là các yếu tố hợp thành chứng minh hay nội dung của hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự. Nói một cách khác, trong tố tụng dân sự chứng minh là hoạt động tố tụng trong đó các chủ thể tố tụng bằng những biện pháp do pháp luật quy định làm rõ các tình tiết, sự kiện của vụ, việc dân sự.
2. Quan niệm chứng minh ảnh hưởng đến việc phân định nghĩa vụ chứng minh và trách nhiệm chứng minh của các chủ thể chứng minh
Chủ thể chứng minh là chủ thể của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự tham gia vào hoạt động chứng minh nhằm xác định có hay không có những sự kiện, tình tiết làm cơ sở cho yêu cầu hay phản đối của các bên đương sự trong vụ việc dân sự. Các ch th chứng minh trong tố tụng dân sự bao gồm: Các đương sự (nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan), người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; các cơ quan, tổ chức khởi kiện yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích của người khác... và TA. Trong trường hợp VKS tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự thì VKS cũng trở thành chủ thể chứng minh.
Quyền chứng minh là khả năng của các chủ thể chứng minh, bằng hành vi tố tụng của mình tham gia vào hoạt động chứng minh. Việc thực hiện quyền chứng minh do các chủ thể chứng minh quyết định. Ngược lại, nghĩa vụ chứng minh bao gồm những hành vi tố tụng nhất định trong hoạt động chứng minh mà các chủ thể chứng minh bắt buộc phải tiến hành hoặc không được tiến hành theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp nghĩa vụ chứng minh bị vi phạm, chủ thể vi phạm phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi.
Chủ thể chứng minh có quyền, nghĩa vụ chứng minh, tham gia vào hoạt động chứng minh, tuy nhiên, không phải tất cả các chủ thể chứng minh đều có quyền, nghĩa vụ chứng minh như nhau. Tùy thuộc vào vai trò, địa vị tố tụng của các chủ thể này và ở từng giai đoạn tố tụng cụ thể, các chủ thể chứng minh có quyền, nghĩa vụ tham gia vào quá trình chứng minh các sự kiện, tình tiết của vụ việc ở những phạm vi và mức độ khác hau. Ví dụ, quyền, nghĩa vụ chứng minh của đương sự khác với trách nhiệm chứng minh của Tòa án; quyền, nghĩa vụ chứng minh của người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự khác với trách nhiệm chứng minh của VKS...
Thực tiễn áp dụng các quy định của BLTTDS hiện nay đang tồn tại các quan điểm khác nhau về xác định nghĩa vụ chứng minh hay trách nhiệm chứng minh của các chủ thể chứng minh đặc biệt là TA, VKS, cụ thể là:
Quan điểm thứ nhất cho rằng: Nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự không chỉ thuộc về đương sự mà của tất cả các chủ thể chứng minh.
Xuất phát từ việc chứng minh là "làm cho thấy rõ là có thật, là đúng bằng sự việc hoặc bằng lý lẽ hoặc dùng suy luận logic vạch rõ một điu gì đó là đúng”, vì vậy, các chủ thể tham gia tố tụng đều có nghĩa vụ chứng minh. Đương sự là người đưa ra yêu cầu, phản đối yêu cầu của đương sự phía bên kia, nên trước tiên đương sự là chủ thể có nghĩa vụ chứng minh. Để chứng minh cho yêu cầu của mình là đúng, đương sự có thể đưa ra các chứng cứ, căn cứ pháp lý để thuyết phục Tòa án. Cung cấp chứng cứ chỉ là một trong các biện pháp chứng minh của đương sự. Điều 79 BLTTDS năm 2004 quy định về nghĩa vụ chứng minh của đương sự, tuy nhiên điều này không tuyệt đối hóa nghĩa vụ chứng minh của đương sự mà loại bỏ nghĩa vụ chứng minh của các chủ thể khác là TA và VKS trong trường hợpVKS tham gia tố tụng dân sự. Quan điểm này cho rằng, mặc dù nghĩa vụ chứng minh thuộc về đương sự, nhưng để giải quyết đúng đắn vụ án, Tòa án với trách nhiệm ban hành phán quyết vẫn phải tiến hành xác minh các tinh tiết của vụ án, thu thập thêm chứng cứ để xác minh các tình tiết của vụ án mặc dù đương sự có cung cấp đầy đủ, vẫn phải xác minh các tình tiết có liên quan, nguyên nhân và điều kiện phát sinh tranh chấp, yêu cầu, tâm tư, nguyện vọng của các bên đương sự. Tòa án phải chứng minh bằng nhận định đánh giá chứng cứ của mình để xác định sự thật khách quan của vụ án và đưa ra phán quyết. Việc quy định về nghĩa vụ chứng minh xét về bản chất tương tự với quy định VKS, Tòa án có nhiệm vụ xác định sự thật khách quan của vụ án một cách toàn diện, đầy đủ, cụ thể và chính xác.
Bên cạnh việc lý giải dưới góc độ trách nhiệm ban hành phán quyết khi thực thi nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan tiến hành tố tụng, quan điểm nghĩa vụ chứng minh này còn được lập luận từ thực tiễn xét xử. Trên thực tế, nhiều TA ở vùng sâu, vùng xa khó có thể yêu cầu đương sự cung cấp chứng cứ để chứng minh. Đặc biệt, với những nơi trình độ dân trí còn hạn chế; hoàn cảnh, điều kiện kinh tế - xã hội còn khó khăn; hệ thống bổ trợ tư pháp chưa phát triển, công tác quản lý của Nhà nước nhất là lĩnh vực nhà, đất còn nhiều bất cập nên dẫn đến một thực trạng là nhiều trường hợp không chỉ đương sự mà cả TA, VKS yêu cầu cơ quan quản lý Nhà nước cung cấp thông tin để xét xử cũng chưa được đáp ứng một cách thỏa đáng. Việc cho rằng nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, chứng minh chỉ của đương sự là cách hiểu chua toàn diện, đầy đủ. "Cách hiểu này dễ dẫn đến sự thụ động trong việc thu thập chứng cứ của Tòa án, thiếu sự giải thích pháp luật, hướng dẫn một cách tích cực, chủ động cho đương sự thực hiện nghĩa vụ chứng minh và quyền yêu cầu Thẩm phán thu thập chứng cứ khi họ không thể làm được”[2].
Quan điểm thứ hai cho rằng: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS là dấu mốc thay đổi căn bản nhận thức về chứng minh. Theo đó, nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự là của các đương sự; Tòa án và Viện kiểm sát không có nghĩa vụ chứng minh chỉ có trách nhiệm chứng minh.
* Xác định nghĩa vụ chứng minh thuộc về đương sự
Hoạt động xét xử các vụ án dân sự là hoạt động phát sinh trên cơ sở có sự tranh chấp trong quan hệ pháp luật nội dung giữa các bên có lợi ích tư đối lập nhau nhưng bình đẳng về địa vị pháp lý mà trong đó có một quy tắc chung cho cả hai bên đương sự: "Người nào đề ra một luận điểm cần có chứng cứ thì phi chứng minh[3]. Theo quy tắc này, mỗi bên đương sự có nghĩa vụ phải chứng minh những sự kiện, tình tiết mà mình đã viện dẫn làm cơ sở cho những yêu cầu và phản đối của mình, hay nói một cách giản đơn là khẳng định một sự việc gì thì phải chứng minh sự việc ấy. Quy định này xuất phát từ cơ sở khi yêu cầu TA bảo vệ quyền lợi cho mình với tư cách là người trực tiếp tham gia vào các quan hệ pháp luật nội dung có vi phạm hay tranh chấp, đương sự là người hiểu rõ nhất vì sao họ có yêu cầu đó, họ biết được những tình tiết, sự kiện trong vụ việc, do đó có khả năng cung cấp chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình, về mặt tâm lý, khi đưa ra yêu cầu của mình bao giờ đương sự cũng là người đứng ở thế chủ động, tự nguyện đưa ra những lý lẽ để chứng minh, bênh vực cho quyền lợi của mình. Sự thật là cơ sở của yêu cầu và phản đối của các bên nên các bên sẽ quan tâm và tìm mọi cách để khẳng định sự thật này.
Khi đưa ra yêu cầu thì nguyên đơn phải chứng minh cho yêu cầu của mình đối với bị đơn, tức là phải có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, tham gia nghiên cứu chứng cứ, tham gia hỏi, tranh luận... để chứng minh, bởi vì bị đơn được suy đoán là không có bất cứ trách nhiệm gì với nguyên đơn cho đến khi trách nhiệm của bị đơn chưa được chứng minh. Cung cấp chứng cứ chỉ là một trong các biện pháp chứng minh của đương sự.
Bên cạnh đó, trong tiến trình phát triển của hoạt động chứng minh, quyền và nghĩa vụ chứng minh của các chủ thể chứng minh không bất biến mà trong điều kiện nhất định, nó có thể di chuyển từ một bên đương sự này sang một bên đương sự khác; từ nguyên đơn sang bị đơn khi bị đơn đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, hoặc khi bị đơn muốn viện dẫn những sự kiện, tình tiết nhằm bác bỏ yêu cầu của nguyên đơn.
Như vậy, quy tắc chung về quyền, nghĩa vụ chứng minh của đương sự có thể quy vào ba luận điểm cơ bản sau đây.
Thứ nhất, nghĩa vụ chứng minh sẽ thuộc về bên đương sự nào muốn viện dẫn những sự kiện, tình tiết để làm cơ sở cho những yêu cầu hoặc phản đối của mình. Kể từ khi làm đơn khởi kiện, việc chứng minh yêu cầu đối với nguyên đơn là nghĩa vụ. Nếu nguyên đơn đưa ra yêu cầu mà không chứng minh được yêu cầu của mình là có căn cứ, có trong thực tế hoặc đưa ra những chứng cứ không có giá trị chứng minh, trong khi đó bị đơn lại đưa ra được chứng cứ có tính thuyết phục để phản đối yêu cầu của nguyên đơn thì yêu cầu của nguyên đơn sẽ bị Tòa án bác bỏ.
Vphía bị đơn, họ người bị kiện nên họ có quyền chứng minh để bảo vệ quyền lợi của mình trước TA. Tuy nhiên, việc chứng minh sẽ trở thành nghĩa vụ đối với bị đơn nếu:
-Bị đơn có yêu cầu phản tố đối với yêu cầu của nguyên đơn hoặc bị đơn đưa ra yêu cầu liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn. Trường hợp bị đơn đưa ra yêu cầu có liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn thì bị đơn phải cung cấp chứng cứ để chỉ ra yêu cầu đó có cơ sở thực tế, cơ sở pháp lý hay không, có đúng đắn không? Khi đó nguyên đơn cũng có quyền phản đối lại yêu cầu đó của bị đơn, đồng thời phải chứng minh cho việc phản đối yêu cầu của mình;
- Bị đơn không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn (có thể bị đơn chỉ chấp nhận phần yêu cầu và phản đối phần còn lại của yêu cầu đó hoặc không chấp nhận hoàn toàn) hoặc thậm chí chỉ trong trường hợp bị đơn đang nắm giữ chứng cứ liên quan đến nguyên đơn.
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập, họ có nghĩa vụ, chứng minh cho yêu cầu ca mình là có căn cứ. Chẳng hạn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập tham gia vào vụ kiện giữa nguyên đơn và bị đơn, họ cho rằng đối tượng đang tranh chấp là thuộc sởhữu của họ chứ không phải thuộc sở hữu nguyên đơn hay bị đơn. Trong trường này, nghĩa vụ chứng minh (nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, tham gia nghiên cứu chứng cứ, tham gia hỏi, tranh luận...) của họ cũng giống như nghĩa vụ của nguyên đơn khi chứng minh cho yêu cầu của mình.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập, dù đứng về phía nguyên đơn hay bị đơn, họ đều có nghĩa cung cấp chứng cứ chứng minh cùng nguyênđơn hay bị đơn vì lợi ích của họ liên quanđến vụ kiện. Việc cung cấp chứng cứ của họ để chứng minh làm sáng tỏ các tình tiết, sự kiện của vụ kiện để bảo vệ quyền lợi cho đương sự mà họ đứng về phía đương sự đó, hoặc có thể làm căn cứ cho yêu cầu của họ đối với một trong các bên đương sự; hoặc chứng cứ do họ cung cấp làm căn cứ để họ phản đối về việc kiện đòi hoàn lại mà một bên đương sự đặt ra cho họ.
Thứ hai, nghĩa vụ chứng minh, theo sự tiến triển của hoạt động chứng minh, trong những điều kiện nhất định có thể di chuyển từ một bên đương sự này sang một bên đương sự khác, và ngược lại.
Thứ ba, phạm vi quyền, nghĩa vụ chứng minh của các bên đương sự phụ thuộc vào phạm vi yêu cầu hoặc phạm vi ý kiến phản đối của họ. Phạm vi yêu cầu hoặc phạm vi ý kiến phản đối đưa ra đến đâu thì phạm vi nghĩa vụ chứng minh đến đó. Nằm ngoài phạm vi nghĩa vụ chứng minh (hay kết thúc phạm vi nghĩa vụ chứng minh) là quyền chứng minh của đương sự.
Ngoài ra, có điều cần lưu ý thêm là, trên thực tế, ranh giới giữa quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương sự rất mong manh, bản thân ranh giới này cũng dễ thay đổi, không thể bó hẹp trước trong một quy tắc hay một quy định chắc chắn. Thậm chí, ngay cả khi nguyên đơn có nghĩa vụ chứng minh cho yêu cầu của mình, thì nguyên đơn cũng có quyền rút lại chứng cứ đó, hoặc quyết định không cung cấp chứng cứ đó để chứng minh nữa. Trong trường hợp này, quyền và nghĩa vụ chứng minh (tất nhiên là bao gồm cả quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ) là đan xen. Nếu nguyên đơn không muốn sử dụng quyền chứng minh, không thực hiện nghĩa vụ chứng minh, mà cụ thể là không cung cấp chứng cứ, không xuất trình chứng cứ thì cũng đồng nghĩa với việc nguyên đơn khước từ quyền đưa ra yêu cầu, từ bỏ yêu cầu của mình và TA sẽ ra phán quyết bất lợi cho nguyên đơn.
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 được ban hành đánh dấu sự thay đổi căn bản trong nhận thức về vấn đề chứng minh và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ - nghĩa vụ chứng minh của đương sự. Việc xác định nghĩa vụ chứng minh của đương sự thông qua việc thu thập chứng cứ và cung cấp cho Tòa án được thể hiện rõ hơn trong Điều 6 BLTTDS. Để bảo đảm cho đương sự thực hiện được nghĩa vụ cung cấp chứng cứ chứng minh bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ và TA có đầy đủ chứng cứ để giải quyết nhanh chóng và đúng đắn vụ, việc dân sự thì phải quy định trách nhiệm của các cá nhân, cơ quan, tổ chức trong việc cung cấp chứng cứ cho đương sự và TA. Vì vậy, tại Điều 7 BLTTDS đã quy định nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Theo điều luật này, cá nhân, cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm cung cấp đầy đủ cho đương sự, TA chứng cứ trong vụ án mà cá nhân, cơ quan, tổ chức đó đang lưu giữ, quản lý khi có yêu cầu của đương sự, Toà án; trong trường hợp không cung cấp được thì phải thông báo bằng văn bản cho đương sự, Toà án biết và nêu rõ lý do của việc không cung cấp được chứng cứ. Tuy nhiên, BLTTDS năm 2004 chưa quy định về việcxử lý các vi phạm trong việc cung cấp chứng cứ không đầy đủ, kịp thời theo yêu cầu của TA, VKS. Việc này đã dẫn đến tình trạng thực tế "nhiều cơ quan, tổ chức chưa phối hợp chặt chẽ với Toà án, thậm chí chưa làm hết trách nhiệm của mình theo quy định của pháp luật trong việc cung cấp tài liệu, chứng cứ... làm cho công tác giải quyết, xét xử nhiều vụ án bị kéo dài hoặc phải ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án...”[4]hoặc "… cùng một vấn đề nhưng nhiều trường hợp cơ quan có thẩm quyền có những văn bản xác nhận trái ngược nhau, ảnh hưởng đến việc giải quyết của Tòa án”[5].
Hiện nay, theo khoản 1 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS có sửa đổi, bổ sung Điều 7 BLTTDS như sau: "Cá nhân, cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm cung cấp đầy đủ và đúng thời hạn cho đương sự, Toà án, Viện kiểm sát tài liệu, chứng cứ mà mình đang lưu giữ, quản lý khi có yêu cầu của đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ đó; trong trường hợp không cung cấp được thì phải thông báo bằng văn bản cho đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát biết và nêu rõ lý do của việc không cung cấp được tài liệu, chứng cứ”. Quy định này đã bổ sung chủ thể "Viện kiểm sát” để phù hợp với những sửa đổi, bổ sung nguyên tắc kiểm sát việc tuân theo pháp luậttrong tố tụng dân sự, quy định rõ việc phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ đó và tại khoản 21 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung BLTTDS sửa đổi Điều 94 BLTTDS cụ thể hóa nguyên tắc này bằng quy định việc xử lý các vi phạm trong việc cung cấp chứng cứ không đầy đủ, kịp thời theo yêu cầu của Tòa án, Viện kiểm sát.
Việc thực hiện quyền, nghĩa vụ chứng minh của đương sự không chỉ thể hiện qua hoạt động cung cấp, thu thập chứng cứ. Vì vậy, bên cạnh những quy định cụ thể về hoạt động cung cấp, thu thập chứng cứ (như quy định tại các Điều 165, 175 BLTTDS) về việc ngay khi khởi kiện, đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ chứng minh bằng việc phải gửi kèm theo đơn khởi kiện các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình; bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhận được thông báo về việc thụ lý vụ án phải gửi cho Tòa án văn bản ghi ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện và chứng cứ, tài liệu kèm theo; quy định tại Điều 84 BLTTDS về việc đương sự có quyền và nghĩa vụ giao nộp chứng cứ cho TA trong quá trình Toà án giải quyết vụ việc dân sự; quy định tại Điều 244 BLTTDS về việc người kháng cáo phải gửi cho Toà án các tài liệu, chứng cứ bổ sung kèm theo đơn kháng cáo (nếu có) để chứng minh cho kháng cáo của mình là có căn cứ và hợp pháp... BLTTDS cũng đã có những quy định cụ thể hơn, rõ ràng hơn bảo đảm cho các đương sự chủ động thực hiện được quyền, nghĩa vụ chứng minh của họ trong các hoạt động nghiên cứu chứng cứ và đánh giá chứng cứ. Chẳng hạn, tại phiên tòa các bên đương sự được tham gia trình bày yêu cầu, bổ sung ý kiến, tham gia hỏi, nghe băng ghi âm, xem băng ghi hình, xem xét vậtchứng, tham gia tranh luận để chứng minh bảo vệ quyền lợi của mình, thời gian tranh luận của họ không hạn chế (từ Điều 217 đến Điều 235 BLTTDS)…
*Tòa án, Viện kiểm sát chỉ có trách nhiệm chứng minh chứ không có nghĩa vụ chứng minh
Tòa án là chủ thể có nhiệm vụ giải quyết vụ, việc dân sự, VKS là chủ thể thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự. Để giải quyết đúng vụ, việc dân sự thì TA vẫn phải xác định xem trong vụ, việc dân sự phải chứng minh, làm rõ là những sự kiện, tình tiết nào? Các chứng cứ, tài liệu của đương sự và những người tố tụng cung cấp có đủ để giải quyết vụ, việc dân sự chưa?
Theo quy định tại khoản 2 Điều 85 BLTTDS năm 2004 thì: "Trong trường hợp đương sự không thể tự mình thu thập được chứng cứ và có yêu cầu thì Thẩm phán có thểtiến hành một hoặc một số biện pháp sau đây để thu thập chứng cứ:...”. Khoản 18 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS đã bỏ hai điều kiện là "đương sự không tự mình thu thập được chứng cứ và có yêu cầu”, thay bằng cụm từ "do Bộ luật này quy định”. Từ quy định này, khi áp dụng trong thực tiễn xét xử đã và đang tồn tại các quan điểm khác nhau:
Quan điểm th nhất cho rng: Thẩm quyền có quyền chủ động sử dụng các biện pháp thập chứng cứ quy định tại khoản 2 Điều 85 Luật sủa đổi, bổ sung một điều của BLTTDS mà không cần có yêu cầu của đương sự vì Tòa án là chủ thể chứng minh có nghĩa vụ chứng minh để ban hành phán quyết.
Quan điểm thứ hai cho rằng: Tòa án chỉ có trách nhiệm chứng minh, vì vậy, cần căn cứ vào các quy định cụ thể tại các điều trong BLTTDS để xác định trường hợp nào thì Thẩm phán có quyền chủ động sử dụng các biện pháp quy định ở khoản 2 Điều 85 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS, trường hợp nào thì phải có đương sự có yêu cầu Toà án mới được sử dụng các biện pháp đó để thu thập chứng cứ. Chúng tôi đồng tình với quan điểm TA chỉ có trách nhiệm chứng minh, điều này phù hợp với quy định tại Điều 6, Điều 79, khoản 1 Điều 84 BLTTDS năm 2004 và Điều 94 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS. Việc các đương sự có quyền, nghĩa vụ thu thập, cung cấp chứng cứ cho TA và chứng minh cho yêu cầu của mình phụ thuộcvào ý chí của các bên, TAchỉxem xét và đưa ra phán quyết của mình trên cơ sở chứng cứ mà các bên đưa ra. Để quyết định giải quyết vụ, việc của mình có sức thuyết phục thì Tòa án không thể không làm rõ những cơ sở của quyết định đó, tức là phải chứng minh những sự kiện làm cơ sở cho các kết luận của Tòa án. Lý luận và thực tiễn giải quyết các vụ việc dân sự của Tòa án đã cho thấy việc không chứng minh được một sự kiện liên quan đến vụ, việc dân sự có thể sẽ kéo theo việc ra một quyết định không có cơ sở làm xâm phạm đến quyền lợi của bên đương sự. Vì vậy, khi thấy chứng cứ có trong hồ sơ vụ, việc dân sự chưa đủ cơ sở để giải quyết thì Tòa án phải yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung chứng cứ (khoản 1 Điều 85 BLTTDS). Tòa án có thể tiến hành thu thập chứng cứ để xác định sự thật khách quan của vụ án theo quy định của BLTTDS để thực hiện trách nhiệm ban hành phán quyết nhân danh Nhà nước (khoản 2 Điều 85 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS). Việc thu thập chứng cứ của Tòa án không phải là nghĩa vụ mà chỉ mang tính hỗ trợ cho việc thu thập chứng cứ của đương sự làm căn cứ để giải quyết vụ, việc dân sự và phục vụ cho việc làm rõ cơ sở quyết định của Tòa án. Tòa án thực hiện việc đánh giá, công bố công khai chứng cứ trước khi sử dụng (Điều 96, Điều 97 BLTTDS).
Bộ luật Tố tụng dân sự không quy định việc thu thập chứng cứ của Tòa án, Viện kiểm sát với tính chất là một nhiệm vụ. Mặc dù các đương sự có nghĩa vụ xuất trình chứng cứ trước TA nhằm thuyết phục về những yêu cầu mà mình đưa ra là có căn cứ, song chứng cứ do các đương sự cung cấp không phải lúc nào cũng có độ chính xác tuyệt đối như toán học (vì có thể có sự giả mạo hoặc nhầm lần). Do đó, TA phải trực tiếp, xem xét, phân tích, so sánh chứng cứ tại phiên toà. Đây là nội dung chủ yếu, cơ bản và có ý nghĩa quyết định trong hoạt động của TA. Tòa án có nhiệm vụ xác minh chứng cứ thông qua việc nghe các đương sự trình bày, giải thích, thẩm vấn người làm chứng, nghe ý kiến của Giám định viên, sự tranh luận của các đương sự, xem xét vật chứng, kết luận giám định, xem xét chứng cứ trong mối liên quan mật thiết với nhau, nghiên cứu trên cơ sở so sánh những chứng cứ này với chứng cứ khác. Trách nhiệm chứng minh của Tòa án nổi bật ở vai trò nghiên cứu và đánh giá về giá trị chứng minh của các chứng cứ được TA tiến hành dựa trên cơ sở pháp luật, lương tâm và trách nhiệm của các thành viên Hội đồng xét xử, được thể hiện trong phòng nghị án khi ra bản án (quyết định) về vụ, việc dân sự. Đây là sự đánh giá chính thức về mặt pháp lý, mang tính chất quyết định đối với các chứng cứ của vụ việc, còn đối với các chủ thể khác (VKS, chủ thể khởi kiện vì lợi ích chung, đương sự...) việc đánh giá chứng cứ có thể được tiến hành trực tiếp bằng sự bác bỏ hay công nhận chứng cứ này hoặc chứng cứ kia hoặc bằng sự hoài nghi về tính xác thực của các chứng cứ. Tuy nhiên, đây chỉ là hoạt động hỗ trợ, tham gia mang tính chất tham khảo..., có thể được Tòa án chấp nhận hay bác bỏ trong bản án hay quyết định về vụ, việc dân sự.
Trong quá trình chứng minh, các chủ thể tham gia vào hoạt động chứng minh với những vị trí tố tụng khác nhau. Hành vi tố tụng của mỗi chủ thể được quy định bởi vị trí tố tụng của họ, vì vậy, chủ thể chứng minh thực hiện những hành vi tố tụng của mình trong phạm vi quyền và nghĩa vụ mà pháp luật tố tụng dân sự cho phép thì cần thiết phải có cách hiểu thống nhất khi áp dụng các quy định của BLTTDS.
Theo đó, đương sự có nghĩa vụ chứng vàTA, VKS trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình chỉ có trách nhiệm chứng minh trong tố tụng dân sự Việt Nam

Tuesday, 30 December 2014

722. Những kinh nghiệm hay rút ra từ Tam quốc Chí.



NHỮNG ĐIỀU RÚT RA TỪ TAM QUỐC

1. Kinh nghiệm của Lưu Bị cho ta thấy; CEO hoàn toàn có thể bắt đầu từ việc bán hàng vỉa hè.

2. Kinh nghiệm của Gia Cát Lượng cho ta thấy; Đôi khi vào doanh nghiệp tư nhân còn có đất phát triển hơn vào doanh nghiệp nhà nước.

3. Kinh nghiệm của Lã Bố cho ta thấy; Nhảy việc nhiều quá sẽ dẫn đến việc không còn ông chủ nào dám nhận.

4. Kinh nghiệm của Bàng Thống cho ta thấy; Vẻ ngoài xấu xí quá sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả khi đi phỏng vấn xin việc.

5. Kinh nghiệm của Mã Tốc cho ta thấy; dù những môn chuyên ngành có học tanh tưởi đến đâu thì chưa chắc đã có ích khi làm việc thực tế.

6. Kinh nghiệm của Dương Tu cho ta thấy; Trong công việc, nếu luôn tỏ ra cao minh hơn lãnh đạo, tất sẽ chết thảm.

7. Kinh nghiệm của Tào Tháo cho ta thấy; Muốn làm ăn được trên thị trường, trước tiên phải đề cao chính sách của Nhà nước. Muốn làm doanh nghiệp của mình lớn mạnh thì phải không ngừng hợp nhất các doanh nghiệp khác vào và đè bẹp các hộ kinh doanh cá thể.

8. Từ cuộc đời của Đại Kiều, Tiểu Kiều, có thể rút ra; đàn ông vừa có tiền, vừa có tài, vừa đẹp trai thường sẽ không thể cùng bạn đi tới cuối cuộc đời.

9. Từ gia đình Tư Mã, ta thấy; đi làm thuê cho người khác, chẳng thà tự mở công ty.

10. Kết cục của Trương Phi cho ta thấy; Phải đối xử tốt với nhân viên, nếu chỉ suốt ngày đè nến áp bức, chắc chắn sẽ phải chịu hậu quả, họ có thể bỏ việc tập thể hoặc nhảy việc.

11. Cuộc đời Hoàng Trung cho ta thấy; tuổi tác không thành vấn đề, quan trọng là thực lực. Đừng coi thường nhân viên già. Đôi khi họ làm còn tốt hơn nhân viên trẻ.

12. Từ câu chuyện ba lần tới lều tranh, ta thấy; một người có bằng cấp hay kinh nghiệm làm việc hay không không quan trọng, cái chính là phải biết tự quảng cáo bản thân mình, nâng cao danh tiếng của mình, đến lúc đó tự dưng có người tìm đến nhà, mời đi làm với mức lương cao, đồng thời cũng không được quên làm bộ làm tịch để nâng cao giá trị bản thân.

13. Kinh nghiệm của Trần Cung cho ta thấy; ông chủ muốn tìm nhân viên tốt đã khó, nhân viên muốn tìm ông chủ tốt để cống hiến còn khó hơn.

14. Câu chuyện về ngựa Xích Thố cho ta thấy; đồ hàng hiệu quả thật hơn đời, cho dù là second hand đi nữa, vẫn được người ta mua với giá cao, bày trong nhà như một món đồ xa xỉ vẫn thể hiện được sự giàu có của gia chủ.

15. Kinh nghiệm của Hoa Đà cho ta thấy; chỉ có kỹ năng chuyên ngành thôi thì chưa đủ. Quan trọng là phải được nhà nước chứng nhận, đủ giấy tờ hợp pháp, phải qua được những thí nghiệm lâm sàng. Những phòng mạch tư nhân hay thầy thuốc rong nói chung không thể tin được.

16. Câu chuyện Tào Tháo mời Từ Thứ cho ta thấy; trong cuộc cạnh tranh khốc liệt tìm nhân tài, có thể không từ một thủ đoạn nào cả. Cho dù mời người đó đến công ty ăn lương không, chẳng phải làm gì cả, còn hơn là để anh ta làm việc cho đối thủ, ảnh hưởng đến tiền đồ của công ty mình.

17. Kinh nghiệm của Mã Siêu cho ta thấy; nếu không tự kinh doanh được một mình thì tốt nhất nên tìm ông chủ nào đó mà làm công.

---Sưu tầm--

Nguồn: Quản Lý Nhân Sự


721. Đánh cắp xấu hổ (Tự răn đe bản thân)

Tự răn đe bản thân
 
(GDVN) - Con người ta có được sự xấu hổ mới có được bản lĩnh, một người, một gia đình, một dòng họ hay một dân tộc, khi sự xấu hổ bị đánh cắp thì không còn gì để mất.
Kể từ năm 1226 khi Hoàng thúc Lý Long Tường cùng sáu ngàn gia thuộc rời cửa Thần Phù, Thanh Hóa trên các chiến thuyền nhằm tránh sự truy sát của nhà Trần, đến nay đã gần 800 năm. Trên đường đi mặc dù đã ghé vào Đài Loan xong Ngài vẫn quyết định đi tiếp sang Cao Ly và định cư ở vùng Hoàng Hải, gần giới tuyến quân sự Bàn Môn Điếm ngày nay. Sao ngài không tìm đường sang Nam dương hay Bắc quốc? Phải chăng có một điều gì đó như tâm linh mách bảo trong quyết định của ngài?
Triều Tiên, dẫu vẫn còn chia cách làm hai miền, nhưng nói đến đất nước này người ta không thể không nói đến một Bắc Triều Tiên đã tự chế tạo được tàu ngầm, tên lửa và có thể là cả vũ khí hạt nhân; một Nam Hàn đủ tầm sánh vai với các cường quốc năm châu về khoa học, công nghệ.
Chọn cho con cháu nơi sống, cách sống  để có thể duy trì dòng tộc trong nỗi đau tha hương tột cùng, hàng ngày lên đỉnh núi ngồi trông về phương Nam mà khóc (nơi ấy ngày nay được gọi là Vọng quốc đàn) chỉ có thể là quyết định của những bậc anh minh. 
Để lại tiếng thơm của một người con Đại Việt, trở thành Hoa Sơn tướng quân nơi đất khách quê người chỉ có thể là khí phách của một dũng tướng.
Ngày nay, trên mảnh đất mà Hoàng thúc Lý Long Tường lựa chọn cho hậu duệ dòng họ Lý, con gái của Tổng giám đốc hãng hàng không Korean Air (KAL) Cho Hyun Ah đang đối mặt với một lệnh bắt giữ từ phía cơ quan công tố Hàn Quốc vì sự hợm hĩnh, kênh kiệu của mình. Người phụ nữ 40 tuổi ấy đã khiến cho cả bố mình phải cúi đầu xin lỗi người dân, không những thế, KAL còn đối mặt với nguy cơ bị phạt tới 2 triệu USD, tương đương hơn 40 tỷ đồng tiền Việt.
Có lỗi phải nhận lỗi, phải bị trừng phạt vì những lỗi gây ra cho đất nước và người dân, khi nhận lỗi không ai dám ngẩng cao đầu, thế mới biết ở xứ Hàn sự xấu hổ chưa bị đánh mất, nó vẫn còn là một nét văn hóa mà bất kỳ quan chức hay người dân nào cũng phải tôn trọng.
Cho Hyun Ah đã phải cúi mặt xin lỗi vì rắc rối đã gây ra. Ảnh Therakyatpost

Con người ta có được sự xấu hổ mới có được bản lĩnh để sửa lỗi, mới biết đâu là giới hạn không được phép vượt qua. Một người, một gia đình, một dòng họ hay một dân tộc, khi sự xấu hổ bị đánh cắp thì không còn gì để mất.

Tổ tiên chúng ta, Đức Quốc công Tiết chế, Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn từng dạy binh sĩ: “Nay các ngươi thấy chủ bị nhục mà không biết lo, nhìn quốc sỉ mà không biết thẹn. Làm tướng một nước, phải hầu quân giặc mà không biết tức, nghe nhạc thái thường để thết tiệc sứ mà không biết căm”… “cựa gà không thể đâm thủng áo giáp của giặc; mẹo cờ bạc không thể dùng làm mưu lược nhà binh;… tiền của tuy nhiều không thể mua được đầu giặc; chó săn khỏe, không đuổi được quân thù; chén rượu ngon không thể làm cho giặc say chết; tiếng hát hay, không thể làm cho giặc điếc tai”…
Những binh lính dưới trướng Hưng Đạo Vương nhận thức được lầm lỗi mà răn mình, thấy sự sỉ nhục của ngoại bang mà thích lên tay hai chữa “sát thát”, chính nhờ đó mà con dân nước Việt đã làm nên chiến công hiển hách khiến các dân tộc khác phải ngưỡng vọng.
Lời răn của Đức Thánh Trần có thể có người không biết, nhưng không thiếu kẻ biết mà bỏ ngoài tai. Thói hợm hĩnh khoe tiền, khoe của đã khiến một số người không hiểu thế nào là chùa, thế nào là đền, có kẻ bỏ tiền tu bổ chùa rồi mang ảnh cả nhà vào trưng nơi chính diện, hành động ngu dốt vô văn hóa ấy có giúp biến họ thành phật? Còn những người có trách nhiệm về phật giáo ở địa phương cũng nhắm mắt làm ngơ, cả kẻ cung tiến và người giữ chùa đều đã đánh mất sự xấu hổ.
Lại có người về quê xây nhà thờ họ lộng lẫy chẳng kém gì cung điện ngày xưa. Nhà thờ mà không thiếu chậu hoa cây cảnh, non bộ róc rách nước chảy, cá bơi. Nếu đó là những đồng tiền chắt chiu bằng mồ hôi và sức lao động thì thật đáng quý, chỉ tiếc rằng không ít ngôi nhà thờ được xây dựng không phải bằng những đồng tiền sạch. Những người như thế đã đánh mất sự xấu hổ, còn tổ tiên của họ, những người Việt chất phác, dung dị liệu có hãnh diện khi trở về ngôi nhà thờ được xây nên bởi những đồng tiền bẩn hay là các cụ đành theo gió, theo mây?
Quyết định bù giờ 1.839.600 phút của “trọng tài chính”
(GDVN) - Nói với các lão thành, lãnh đạo bậc cao nhất tỉnh cho biết, việc bổ nhiệm đúng quy trình; nhưng chỉ 3 ngày sau, cấp dưới họp lại, thu béng cái quyết định ấy...
Nếu ai đó nghĩ rằng những đồng tiền bất minh mà họ kiếm được đem cúng dường nhà Phật, đem xây nhà thờ dòng tộc riêng mình có thể mua lại sự xấu hổ thì họ thật sai lầm. Sự xấu hổ vốn hàm chứa ý nghĩa nhân văn cao quý, vốn không phải thứ có thể mua bằng tiền.
Đánh mất sự xấu hổ là đánh mất phần “người” chỉ lại phần “con”. Còn những kẻ đánh cắp sự xấu hổ thì mất cả “con” lẫn “người”, sự tồn tại của họ chỉ làm “bẩn” thêm xã hội.
“Đánh cắp xấu hổ” có thể là một cụm từ lạ, đọc lên nghe có gì đó ngang ngang, không thuận tai như người ta thường nói “đánh cắp tuổi thơ” hay “đánh cắp niềm tin”…
“Đánh cắp xấu hổ” của một người (hay một tộc người) là đưa người đó (hay tộc người đó) đến bến bờ của sự nghèo đói, nô lệ bởi lẽ trong xã hội văn minh, loài người khác động vật ở chỗ biết xấu hổ.
“Đánh mất xấu hổ” có thể rơi vào cả ba loại người: không học, ít học hay “nhiều học”, trong khi “đánh cắp xấu hổ” chỉ có thể là loại người “được học”. Sở dĩ nói “được học” chứ không phải là “có học” vì trong tiếng Việt “có học” đồng nghĩa với sự tử tế, còn “được học” bao hàm rất nhiều ý nghĩa, cả tích cực lẫn tiêu cực.
Những người do điều kiện khách quan, không được học hoặc học không đến nơi, đến chốn nếu có “ít xấu hổ” thì hoàn toàn có thể thông cảm. Đáng nói là những người “nhiều học” lại còn kèm thêm “thông minh đột xuất”, cứ  mỗi dịp bình xét thi đua hay bầu cử các chức danh là thấy tuôn trào đầy rẫy lời vàng ý ngọc, quyết tâm, quyết quyết… Nếu chưa hạ cánh thì thật khó mà biết họ chẳng còn tí xấu hổ nào mang về quê làm quà cho con, cho cháu.
Những kẻ “đánh cắp xấu hổ” không phải là những kẻ đần độn, nhưng chắc chắn đó là những kẻ không biết xấu hổ. Minh chứng cho điều này có thể thấy trên một bài viết mà BBC tiếng Việt đăng tải ngày 24/12/2014

720.Nước đã đến chân doanh nghiệp vẫn chưa sẵn sàng

Cuối năm nhìn lại.
 

Theo: VNN's: Thời điểm không ít doanh nghiệp đang vất vả vật lộn với câu hỏi “tồn tại hay không tồn tại” thì cũng là lúc những biến động vô cùng to lớn đang đứng bên ngưỡng cửa nền kinh tế của chúng ta.
Đó là Cộng đồng Kinh tế ASEAN sẽ đến trong vòng không đầy 12 tháng và Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương đang trong quá trình kết thúc các vòng thương thảo và có khả năng sẽ được ký vào năm 2015.
Mới đây chúng ta vừa kết thúc đàm phán các hiệp định thương mại tự do VCUFTA (với Hải quan Nga – Belorussia và Kazakhstan), EVFTA (với Liên minh châu Âu), VKFTA (với Hàn Quốc), trong đó chúng ta được dành nhiều ưu đãi, cơ hội rộng mở cho xuất nhập khẩu. Liệu các doanh nghiệp trong nước có kịp trở tay, hay lại buông xuôi để trôi theo dòng nước?
Tháng 11-2006, Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Chúng ta đã háo hức chờ đón một bước chuyển mình lớn nhất từ khi mở cửa hội nhập.
Trước đó, Hiệp định Thương mại song phương với Hoa Kỳ (BTA) đã cho thấy là một thành công to lớn của Việt Nam, để giá trị thương mại tăng bình quân 20%, từ 1,5 tỉ USD trước đó đến 30 tỉ USD năm vừa qua.
Tuy nhiên, sự hứng khởi với WTO chỉ ngắn ngủi trong năm 2007, để rồi bắt đầu năm 2008 các doanh nghiệp dồn dập đón nhận bão táp đến từ cuộc khủng hoảng tài chính thế giới.
Thế là hàng trăm ngàn doanh nghiệp đã không trụ nổi trong bão táp đã lần lượt rời bỏ cuộc chơi. Trong rất nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan của khó khăn, các doanh nghiệp liệu có đặt câu hỏi khi giật mình nhìn lại: Có phải chúng ta đã lạc quan quá đà? Có phải so với doanh nghiệp các nước, chúng ta đã chuẩn bị một cách quá yếu kém cho cuộc chơi mới?
Bài viết này chỉ muốn khơi dậy mối quan tâm của doanh nghiệp với hai sự kiện hết sức quan trọng đang tới, đó là Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) và Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP).
Trong dịp khác, chúng ta sẽ bàn đến các sự kiện khác như Hiệp định đối tác toàn diện khu vực (RCEP – gồm 10 nước ASEAN và sáu nước Úc, Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật, Hàn Quốc, New Zealand) và Hiệp định Thương mại tự do với EU.
Tại sao lại là TPP và EAC?
Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) được nhắc đến nhiều vì đây là hiệp định thương mại lớn nhất thế giới, với chỉ 12 nước tham gia nhưng có quy mô 40% GDP toàn cầu. Thứ hai, đây được coi là hình mẫu của hiệp định thương mại thế kỷ XXI với mức độ toàn diện cao nhất, không chỉ về thương mại, đầu tư, mà tác động đến cả chính sách trong mỗi nước. Khác với việc gia nhập WTO là gia nhập một tổ chức thì tham gia TPP là ký kết một hiệp định với những điều khoản rất cụ thể. Tuy đã lỡ dịp ký năm 2014, tuy nhiên các bên đang kỳ vọng TPP sẽ được ký trong nửa đầu năm 2015.
Việt Nam, doanh nghiệp, ASEAN, TPP, AEC
Xếp hạng năng lực cạnh tranh các nước tham gia TPP. (Nguồn: Diễn đàn Kinh tế thế giới 2014)
Cộng đồng kinh tế ASEAN (EAC) lại là sự kiện gần gũi nhất với Việt Nam, với thời hạn đã được ấn định là tháng 12-2015, tức còn đúng một năm nữa. Mười nước ASEAN sẽ trở thành một cộng đồng kinh tế tự do với quy mô 2.300 tỉ USD, với dân số 600 triệu người. Giữa cộng đồng này sẽ là dòng chảy hoàn toàn tự do về hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, vốn và lao động có kỹ năng (trước mắt là tám ngành gồm bác sĩ, nha sĩ, y tá, kỹ sư, kiến trúc sư, kế toán, giám định và du lịch).
Chúng ta có gì đặc biệt trong TPP và EAC?
Điểm đặc biệt của chúng ta, theo xếp hạng năm 2015 của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), trong 12 nước tham gia TPP thì Việt Nam là nước có năng lực cạnh tranh thấp nhất!
Đáng nói hơn, trong TPP thì Việt Nam có hạng thấp nhất về bản chất của năng lực cạnh tranh. Theo cách phân loại của Diễn đàn Kinh tế Thế giới, trong TPP thì bảy nước Nhật, Singapore, Mỹ, Malaysia, Úc, Canada và New Zealand nằm trong nhóm phát triển dựa vào sáng tạo. Hai nước Chile và Mexico nằm trong nhóm phát triển dựa vào năng suất. Riêng Việt Nam và Peru nằm trong nhóm dưới đáy, được gọi là phát triển kinh tế dựa vào các yếu tố được thiên nhiên ban phát. Hay nói cách khác, so trên thế giới thì chúng ta được coi là nền kinh tế đào xúc và hái lượm!
Còn trong EAC, đếm đầu quốc gia thì có vẻ như năng lực cạnh tranh của chúng ta không quá tệ: đứng dưới năm nước và đứng trên ba nước. Tuy nhiên, phải nhìn vào quy mô kinh tế thì mới thấy bức tranh thực. Nhóm có năng lực cạnh tranh cao hơn chúng ta chiếm 89% GDP của cả khối, trong khi chúng ta chỉ trên được một nhóm tương đương 3% GDP của cả khối.
Việt Nam, doanh nghiệp, ASEAN, TPP, AEC
Xếp hạng trình độ sản xuất các nước trong khu vực. (Nguồn: Diễn đàn Kinh tế thế giới 2014)
Càng đi sâu vào so sánh các chi tiết, càng có nhiều điểm làm cho chúng ta phải giật mình. Việt Nam xếp hạng tệ nhất trong ASEAN về chi phí thuế (gồm chi phí tiền bạc và chi phí thời gian cho thuế). Theo khảo sát của Ngân hàng Thế giới, thời gian doanh nghiệp phải tốn cho thuế ở Việt Nam cao gấp 10 lần ở Singapore và năm lần ở Campuchia.
Về trình độ marketing và trình độ quy trình tổ chức, chúng ta đứng hạng 114 và 116 trên thế giới, trong ASEAN, chúng ta xếp hạng thấp hơn cả Lào và Campuchia.
Về hàng loạt các chỉ tiêu quan trọng khác, Việt Nam cũng đứng thấp hơn cả Lào và Campuchia, chỉ đứng trên được một mình Myanmar. Đó là chỉ tiêu về khả năng thu hút nhân tài, khả năng giữ chân nhân tài, chỉ tiêu đầu tư đào tạo nhân viên, chỉ tiêu về niềm tin để trao quyền cho cấp dưới…
Còn về chỉ tiêu xếp hạng sức khỏe của hệ thống ngân hàng, Việt Nam thậm chí còn đứng thấp hơn cả Myanmar, đứng hạng chót trong khối ASEAN.
Doanh nghiệp chúng ta sẽ ở đâu trong cuộc chơi mới?
Để chuẩn bị cho cuộc chơi mới của TPP và AEC, doanh nghiệp các nước đang có những bước chuẩn bị chiến lược rất bài bản.
Singapore đã củng cố vị thế là đầu mối của đầu tư và thương mại trong cộng đồng, là nước đầu tiên trong ASEAN ký kết Hiệp định Thương mại tự do với EU. Năm nay, Hyundai – hãng xe lớn thứ tư thế giới, đã đặt cơ sở sản xuất chiến lược tại Malaysia, để nhắm vào TPP và EAC. Mazda – hãng xe lớn thứ tư của Nhật, đã quyết định đặt cơ sở sản xuất chiến lược ở Thái Lan, cũng một phần để nhòm ngó thị trường EAC. Ngay ở Việt Nam, dễ thấy Thái Lan và Philippines đang tích cực mở rộng các chuỗi phân phối bán lẻ, quảng bá thương hiệu, để mở đường cho cuộc chinh phục thị trường chúng ta.
Trong khi đó, chúng ta nằm trong nhóm bốn nước chậm chân nhất, mà ASEAN gọi là LCMV (Lào, Campuchia, Myanmar và Việt Nam). Ba nước kia đã có những cải thiện mạnh mẽ trong mấy năm qua và đã có nhiều điểm vượt trên Việt Nam.
Trong đoạn phim mà Ban thư ký ASEAN nói về Cộng đồng Kinh tế ASEAN, hình ảnh của Singapore là xa lộ thông tin và dịch vụ tài chính, hình ảnh của Malaysia là cơ sở hạ tầng tuyệt vời, hình ảnh Thái Lan là chợ nông sản hiện đại, còn người ta đã giới thiệu Việt Nam bằng hình ảnh gánh hàng rong và đường phố ngập tràn xe hai bánh.
Chuỗi giá trị gia tăng
Trong quá trình hội nhập, các nhà kinh tế không chỉ nhìn vào kim ngạch xuất nhập khẩu, hay tổng vốn đầu tư nước ngoài. Họ còn có cái nhìn khác.
Họ xét xem FDI mang đến những gì cho doanh nghiệp trong nước. Về chỉ tiêu chuyển giao công nghệ với FDI, trong khối ASEAN chúng ta chỉ đứng trên Myanmar, đứng thấp hơn cả Lào và Campuchia. Điều đó nói lên rằng, so với các nước khác thì FDI vào nước ta chủ yếu nhắm vào lao động giá rẻ và tài nguyên thiên nhiên.
Về xuất nhập khẩu, chúng ta có những con sốấn tượng như bao nhiêu tỉ USD xuất dầu thô, than đá, mủ cao su, khoai mì, cà phê, da giày hay dệt may… Tuy nhiên, trong giá bán một ly cà phê, chúng ta là người sản xuất cà phê nhưng chỉ được hưởng không đến 1%. Trong một đôi giày hay chiếc áo bán đến tay người tiêu dùng, chúng ta tự hào với dòng chữ “Made in Vietnam” nhưng cũng chỉ hưởng quanh quẩn 1%.
Vấn đề trong hội nhập không phải là bán được bao nhiêu, mà là chúng ta chiếm được vị trí nào trong chuỗi giá trị.
Kinh nghiệm cho thấy, trong nhiều ngành chúng ta đã mất dần khỏi những vị trí có giá trị gia tăng cao như thiết kế, tạo thương hiệu, phân phối bán lẻ… để lùi dần về vị trí thấp nhất trong chuỗi giá trị: gia công và đào xúc hái lượm.
Doanh nghiệp quá thờ ơ?
Tuy TPP và EAC có tác động lớn hơn rất nhiều so với câu chuyện BTA năm 2001 và WTO năm 2006, nhưng tại sao hồi đó doanh nghiệp và truyền thông sôi sục, mà đến nay lại có vẻ thờơ như vậy?
Một số người lý giải là các doanh nghiệp hiện đang vất vả vật lộn hằng ngày với chuyện sống còn, không mấy người đủ thời gian và công sức lo đến tương lai dài hạn. Có vị chuyên gia nói nhiều doanh nghiệp vẫn yên tâm rằng khi nguy kịch thì Chính phủ sẽ giải cứu.
Tuy nhiên, rõ ràng là doanh nghiệp chúng ta đang ở vị thế quá thấp, và chúng ta đầu tư quá ít để chuẩn bị cho giai đoạn mới. Cải thiện trình độ marketing, trình độ sản xuất, đầu tư đào tạo nhân viên, cải thiện niềm tin… đều là việc của doanh nghiệp, không phải của Chính phủ.
Hy vọng là những lời cảnh báo này không mất hút vào khoảng không, giống như những cảnh báo sớm từ năm 2007 khi doanh nghiệp đang hào hứng với chứng khoán và bất động sản.
Hy vọng là cộng đồng doanh nghiệp sẽ có những giật mình, dù đến nay đã là muộn. Nước đã đến chân, chậm thêm sẽ là nước đến cổ.

Thursday, 27 November 2014

719. TẠ ƠN ĐẤT LÀNH SÀI GÒN.


Vùng “đất lành” Sài Gòn đã là điểm đến, nơi dừng chân, nơi sinh cơ lập nghiệp của biết bao “đàn chim” từ nhiều vùng đất và nguồn gốc xuất xứ khác nhau. Chỉ kế đến những năm cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21, Sài Gòn đã dung chứa trong nó hàng triệu con người, cũng chia sẻ hàng triệu cơ hội kiếm sống trong đó có hàng ngàn cơ may thành đạt, giàu có. Hiện nay Sài Gòn là thành phố có số lượng dân nhập cư lớn nhất, khoảng hơn 2 triệu người. Dân số TPHCM năm 2011 khoảng 7.500.000 người nhưng tại đây luôn có tới gần 10 triệu người sinh sống làm ăn.
Từ những con người của Sài Gòn và sống - ở - Sài Gòn, Sài Gòn đã dung nạp, tiếp nhận tất cả các yếu tố văn hóa khác nhau: phong tục tập quán, tín ngưỡng tôn giáo, tiếng nói, ẩm thực, trang phục… Và quan trọng là Sài Gòn không làm thay đổi những nét văn hóa riêng của từng cộng đồng người, vẫn nuôi dưỡng tất cả để tạo nên sự phong phú đa dạng của văn hóa Sài Gòn.
Ở Sài Gòn các “hội đồng hương” tồn tại và phát triển mạnh; gần như có đủ tất cả các tỉnh thành thậm chí có cả hội đồng hương cấp huyện. Người các tỉnh thành vào SG giữ được “cá tính văn hóa” riêng của quê hương mình, nhất là ngôn ngữ và ẩm thực là hai yếu tố được nhận biết rõ ràng nhất. Ở Sài Gòn tiếng nói các vùng miền hòa lẫn vào nhau, không phân biệt “quê” hay “thành” , không kỳ thị “Sài Gòn” hay “tỉnh”. Chỉ cần buổi sáng ngồi ở các quán cà phê bạn có thể nghe thấy giọng nói cả ba miền Nam Trung Bắc, có thể nhận biết tiếng miền Tây, tiếng Hà Nội, tiếng Quảng, tiếng Huế, chưa kể bây giờ còn có nhiều người Hàn, người Nhật, người các xứ Âu Mỹ đến làm ăn tại Sài Gòn.
Các món ăn ở Sài Gòn thì “thôi rồi”, chẳng thiếu đặc sản của nơi nào: Bánh Huế, cơm hến, mì Quảng, bùn bò Huế, phở Hà Nội, bánh đa cua Hải Phòng, bún đậu mắm tôm “đặc Bắc”, bún mắm, bún nước lèo miền tây, hủ tíu Sa Đéc, Mỹ Tho, Nam Vang, bún riêu bắc, bún riêu nam, bánh xèo “Bà Mười Xiềm” Cần Thơ, bánh khọt Cô Ba Vũng Tàu… Quán ăn Tây, Nhật, Hàn, Thái, tiệm Fast Food khắp nơi… Ẩm thực và ngôn ngữ ở Sài Gòn như một “liên hiệp quốc” chung sống hòa bình, thân ái, chẳng ai muốn diệt ai, mà có muốn thì cũng không được, vì Sài Gòn vốn bao dung cho mọi người vì mọi người đã làm nên Sài Gòn.
Sự bao dung ấy làm cho Sài Gòn luôn tươi mới và còn làm cho những “đặc sản” các nơi được lưu giữ ở Sài Gòn một cách “đậm đặc”, vì theo quy luật của văn hóa: văn hóa càng xa cái gốc càng bảo tồn nguyên vẹn mà nếu ở ngay quê hương thì có khi bị biến dạng, biến chất nhanh.
Sự bao dung của Sài Gòn còn là cái nôi cho những tài năng đến đây và phát triển.

Nhiều lần tôi thử lý giải về sự bao dung nâng đỡ của Sài Gòn đối với những gì còn yếu thế, mới mẻ, thậm chí còn chưa kịp định hình. Không thể không bắt đầu từ lịch sử. Là vùng đất chưa kịp có ký ức lâu dài nếu ta coi yếu tố thời gian lịch sử là quan trọng nhất trong việc hình thành ký ức và truyền thống: Sài Gòn 300 năm lại là vùng đất “làm ăn”, trung tâm kinh tế, khác tính chất trung tâm chính trị của Thăng Long hay Huế. Do không chịu sự níu kéo của truyền thống quá sâu nặng nên dễ tiếp nhận cái mới, đồng thời cũng chưa đủ sức mạnh để “đồng hóa” cái mới, cái khác.
Sài Gòn bao dung vì không coi mình là “trung tâm” để so sánh hơn kém với vùng miền khác. Sài Gòn đánh giá hiệu quả việc “làm ăn” là quan trọng nhất, mọi cái khác coi là “chuyện nhỏ”. Người Sài Gòn có tính thực tế cao nhưng không bị chuyển thành tính “cá nhân” mà ngược lại tính cộng đồng cũng cao, việc xã hội, “việc nghĩa” được coi là chuyện bình thường. Vì vậy dễ dàng chia sẻ, đùm bọc người tứ xứ nhập cư.
Nói chuyện với nhiều người bạn Mỹ, các bạn đều nhận xét rằng, có gì đấy khá giống nhau giữa sự hình thành, phát triển Sài Gòn với nước Mỹ. Và nếu như ở nước Mỹ có một ngày Lễ Tạ Ơn thì tôi mong rằng những người đã đến Sài Gòn sinh sống làm ăn, hãy một lần thôi, tạ ơn đất này.
8.12.2013

Nguồn: TS Nguyễn Thị Hậu's FB

SÀI GÒN TIẾP THỊ XUÂN GIÁP NGỌ 2014
TẠ ƠN ĐẤT LÀNH
Tạp bút, Nguyễn Thị Hậu



Sunday, 23 November 2014

718. Mdaemon 14.5.1 Full

Download Mdaemon Cr@ack tại đây.

Security Cr@ck 4.5.0 here.

làm theo file hướng dẫn.

Follow the instruction here.

==================================================================



679.0 Hướng dẫn cài đặt AD RMS server ( Active Directory Rights Management Services) có trong Windows Server 2012.

Nguồn: https://mdungblog.wordpress.com/2018/06/21/simple-guide-huong-dan-cai-dat-ad-rms-windows-server-2012-r2/   Hôm nay mình xin giới thiệ...