Thursday, 24 February 2011

303.Nguyễn Thanh Ty: Bom áp nhiệt nổ giữa Ba Đình

Nguyễn Thanh Ty: Bom áp nhiệt nổ giữa Ba Đình

Thứ Sáu, Ngày 20/08/2010

Ngày 19 tháng 6 năm 1924, Phạm Hồng Thái, (1896-1924) một nhà hoạt động trong Phong trào Đông Du, đã giả dạng ký giả vào khách sạn Victoria tại tô giới Sa Điện ở Quảng Châu để ám sát toàn quyền Đông Dương Martial Henri Merlin. Trên đường từ Nhật về Đông Dương, Merlin dừng lại thăm tô giới của Pháp và dự tiệc đêm ở đó. Tổ chức Tâm Tâm Xã muốn giết viên thực dân này để gây thanh thế. Phạm Hồng Thái đã nhận nhiệm vụ thực hiện sứ mạng này. Ông đã quăng một trái bom nhỏ vào giữa tiệc. Tuy nhiên việc mưu sát không thành, Merlin chỉ bị thương nhẹ và thoát chết, dù vậy có năm doanh nhân Pháp tử thương. Phạm Hồng Thái thoát khỏi khách sạn nhưng bị truy nã ráo riết, cuối cùng phải gieo mình xuống dòng Châu Giang tự tử. Khi ấy ông chỉ mới 28 tuổi.
Sự kiện này được nêu tên gọi “Tiếng bom Sa Điện”, đã làm chấn động dư luận bấy giờ. (Theo Wikipedia)
Tám mươi sáu năm sau, (1924-2010) để góp phần trong công cuộc diệt trừ chủ nghĩa độc tài dối trá của đảng cộng sản Việt Nam, hai quả bom “áp nhiệt” đã được ném vào hang ổ, sào huyệt của bè lũ Cộng sản.
Một quả nổ lớn tại cơ quan đầu não Bắc Bộ phủ, Ba Đình, ngày Thứ Năm, 29 tháng 4 năm 2010. Quả kia nổ tung ở trụ sở Hội Nhà văn nhân ngày Đại Hội Nhà Văn Việt Nam lần thứ 8 diễn ra từ 4 đến 6 tháng 8 năm 2010.
Quả bom thứ nhất do “dũng sĩ” TS Luật sư Cù Huy Hà Vũ ném, đánh sập dinh lũy dối trá bịp bợm của Đảng cộng sản che giấu “sự thật” suốt hơn 60 năm, đã làm chấn thương ít nhất là 15 tên trong Bộ Chính Trị, gây hoảng loạn cho bọn chúng sợ mất mật, táng đởm kinh hồn.
Quả bom thứ hai do “dũng sĩ” Trần Mạnh Hảo, một nhà văn phản kháng ném, đã gây sốc và làm liệt kháng giây thần kinh tự trọng cho 2/3 trong số 671 “văn nghệ sĩ” và “các nhà lý luận” hàng đầu Việt Nam đang tham dự.
Sự kiện nóng bỏng lần này cũng gây chấn động dư luận trong và ngoài nước được nêu tên gọi là “Tiếng bom sự thật”.
Thật ra, bom “Sự thật” này người Việt hải ngoại trong nhiều năm đã từng dội về nước, lên đầu đảng cộng sản rất nhiều rồi để đảng thức tỉnh, mở mắt ra thấy được cái độc tài, tàn ác, ngu dốt, đần độn của mình mà rút tay lại, giúp cho nhân dân bớt bị áp bức, lầm than, khốn khổ. Nhưng với bản chất tham bẩn, ù lì, ngoan cố, bọn chóp bu của Bộ Chính trị Bắc Bộ phủ vẫn khư khư quyết bám chặt lấy quyền lợi cá nhân và tập đoàn gian tham của mình nên cố lấp liếm che đậy, chống đỡ mưa bom “Sư thật” bằng luận điệu tuyên truyền dối trá, bịp bợm che mắt, bịt tai người dân trong nước rằng đó là sự bịa đặt, xuyên tạc, bôi bác “đảng ta” của bọn “Ngụy quân, Ngụy quyền” với ý đồ lật đổ “Chính quyền cách mạng” của “Nhà nước ta”.
Lần này, bom “Sự thật” lại chính do người trong lòng chế độ của đảng đào tạo nên từ một nền giáo dục Xã hội chủ nghĩa, là đảng viên ưu tú, là hạt giống đỏ, là “đỉnh cao trí tuệ” của đảng, đã thẳng cánh ném vào đầu đảng một cách không khoan nhượng.
Quả là dòi trong xương dòi ra. Đảng cộng sản Việt Nam đã bị giáng một đòn chí mạng bằng bom “áp nhiệt”, một thứ vũ khí mới, phát minh bởi nữ khoa học gia người Mỹ gốc Việt, Dương Nguyệt Ánh. Bà cũng là một nạn nhân tỵ nạn cộng sản sau tháng 4 năm 1975.
Loại bom “áp nhiệt” này có sức công phá mãnh liệt, nó có thể ăn luồn, len sâu vào tận ngõ ngách, hầm hố, hang ổ của giặc để “diệt tận gốc, trốc tận rễ” về lâu dài.
Tiếng nổ của hai quả bom đã đánh sập thành lũy kiên cố xây dựng bằng sự dối trá, bịp bợm của đảng cộng sản từ trước đến nay, được truyền thông thế giới loan tin đầy đủ, rõ ràng.
Vụ ném bom vào cơ quan đầu não Ba Đình của TS Luật sư Cù Huy Hà Vũ được đài Tiếng nói Hoa Kỳ, VOA, tường thuật chi tiết qua cuộc phỏng vấn trực tiếp với “dũng sĩ” ném bom Cù Huy Hà Vũ. Xin tóm tắt ý chính như sau:
VOA: Ông nghĩ sao về các diễn đạt của ban lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam và nguyên cả bộ máy tuyên truyền cho rằng ngày 30/4/75 là “Ngày giải phóng miền Nam”?
TS Cù Huy Hà Vũ: Khi nói “Giải phóng miền Nam” thì không thể không xác định giải phóng Miền Nam khỏi ai? Khỏi cái gì?
Trước hết, chắc chắn không phải “giải phóng miền Nam” khỏi sự chiếm đóng của Hoa Kỳ vì ngày 30/4/75 quân đội cộng sản nhận sự đầu hàng của Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Dương văn Minh, trong khi Hoa Kỳ đã rút hết quân khỏi miền Nam từ năm 1973 theo hiệp định Paris. Vậy chỉ còn khả năng “giải phóng miền Nam” khỏi chế độ tư bản, kẻ thù của chủ nghĩa xã hội theo học thuyết Mác-Lênin. Tại thời điểm năm 1975 thì đúng là như vậy do có sự ngộ nhận của một bộ phận những người cộng sản Việt Nam, mà bằng chứng là các chiến dịch “cải tạo công thương nghiệp” và “tập thể hóa nông nghiệp” trên cơ sở quốc hữu hóa cơ sở sản xuất, đất đai thuộc sở hữu tư nhân do chính quyền mới tiến hành sau đó. Tuy nhiên tại thời điểm hiện nay thì quan niệm đó chắc chắn không chỉ là lỗi thời mà còn là phản động theo đúng nghĩa đen của từ này vì ban lãnh đạo Đảng cộng sản đã công khai đi theo đường tư bản chủ nghĩa.
VOA: Ông có thể chứng minh được không vì cho đến nay, lãnh đạo Đảng cộng sản vẫn tuyên bố kiên định với chủ nghĩa xã hội?
TS Cù Huy Hà Vũ: Cốt lõi của chủ nghĩa xã hội theo học thuyết Mác-Lê là Kinh tế Nhà nước chỉ huy hay kinh tế tập trung, kinh tế tư nhân được coi là “bóc lột người” bị loại trừ. Thế nhưng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa đã bị phá sản tuyệt đối vào năm 1985 khi chính sách giá-lương-tiền của chính phủ Việt Nam gây lạm phát tới 900%, dẫn đến kinh tế tư nhân hay kinh tế thị trường được đảng cộng sản Việt Nam phục hồi tại Đại hội 6 của đảng vào năm sau, 1986.
VOA: Nếu vậy tại sao cộng sản Việt Nam vẫn tuyên bố kiên định chủ nghĩa xã hội theo học thuyết Mác-Lênin?
TS Cù Huy Hà Vũ: Sở dĩ có chuyện lãnh đạo đảng cộng sản nói một đàng làm một nẽo là vì họ sợ mất quyền lợi của bản thân. Thực vậy, nếu chính thức từ bỏ chủ nghĩa xã hội thì Đảng cộng sản Việt Nam sẽ mất độc quyền lãnh đạo đất nước trong khi quyền lực là phương tiện làm giàu của đại đa số đảng viên có chức vụ. Hơn nữa, để tránh cho ban lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam một sự sụp đổ như đã diễn ra với các chính thể cộng sản tại Liên Xô và Đông Âu, thậm chí tồi tệ hơn rất nhiều vì hành xử của tuyệt đại đa số quần chúng nhân dân đáng tiếc là vẫn đậm chất nông dân theo đó cách mạng đồng nghĩa với trả thù, phục hận. Cách duy nhất là mau chóng thực hiện chế độ đa đảng.
VOA: Nghĩa là Tiến sĩ cho rằng cách diễn đạt “Ngày giải phóng miền Nam” theo ban lãnh đạo đảng cộng sản và bộ máy tuyên truyền bây giờ là không đúng?
TS Cù Huy Hà Vũ: Đúng như vậy và vì thế cần phải bỏ. Đó là chưa kể cách diễn đạt này dễ bị diễn giải thành “Miền Bắc thôn tính Miền Nam” và trong trường họp đó lại trở thành mầm mống chia rẽ Bắc-Nam không chỉ trong nhân dân mà ngay trong chính nội bộ những người cộng sản. Mặt khác, không thể nào thực hiện được hòa hơp hòa giải với những người Việt bên kia chiến tuyến như Nhà nước cộng sản chủ trương nếu Nhà nước này vẫn duy trì cách diễn đạt mang đậm chất “thắng-thua” như trên.
VOA: Chúng tôi được biết vào tháng 3 vừa qua, Tiến sĩ có gửi cho Nhà nước Việt Nam một kiến nghị xây Đài tưởng niệm chung cho các chiến sĩ hy sinh trong chiến đấu bảo vệ Hoàng Sa và Trường Sa, trong đó ông đề nghị tôn vinh các quân nhân quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh bằng cách công nhận họ là liệt sĩ. Xin ông cho biết mục đích khi đưa ra sáng kiến này?
TS Cù Huy Hà Vũ: Thực lòng, khi đưa ra kiến nghị, tôi không nhằm bất cứ mục đích chính trị nào mà chỉ đơn giản nghĩ rằng tất cả những ai đã hy sinh để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam đều có quyền được Nhà nước thay mặt nhân dân Việt Nam tri ân và tri ân một cách xứng đáng. Trừ những kẻ phản bội tổ quốc Việt Nam, không ai có quyền tước đoạt cái quyền thiêng liêng ấy của những người lính Việt Nam Cộng Hòa đã ngã xuống trong cuộc chiến bảo vệ Hoàng Sa, lãnh thổ thiêng liêng của Việt Nam. Nếu Nhà nước Việt Nam nghiêm túc thực hiện thì đó sẽ là sự khởi đầu quan trọng cho sự hòa hợp, hòa giải giữa những người Việt từng ở hai bờ chiến tuyến. Nhưng để có được hòa hợp, hòa giải dân tộc thực sự và bền vững thì Nhà nước Việt Nam phải thay đổi căn bản tư duy về vấn đề này.
VOA: Ông có thể nói rõ hơn về chuyện thay đổi tư duy này?
TS Cù Huy Hà Vũ: Hòa hợp, hòa giải là xuất phát từ lợi ích chung, lợi ích quốc gia nên dứt khoát không phải là sự ban phát của nhà cầm quyền mà phía bên kia là kẻ chịu ơn, không phải là sự tha thứ, khoan dung dành cho những đứa con hư biết hối lỗi như cách Nhà nước thể hiện lâu nay.
…Tổ quốc Việt Nam không của riêng ai và vì vậy sẽ là kẻ có tội nếu Nhà nước Việt Nam chần chừ hoặc tồi tệ hơn, không thực tâm thực hiện hòa hợp, hòa giải dân tộc để mọi người Việt bất luận chính kiến đều có cơ hội cứu nước trước nguy cơ Trung Quốc xâm lược Tường Sa nói riêng, lãnh thổ Việt Nam nói chung, rõ ràng hơn bao giờ hết.
Nhân đây, một lần nữa tôi kêu gọi ban lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam mau chóng thực hiện chế độ đa đảng ở Việt Nam bởi nếu không, hòa hợp, hòa giải dân tộc sẽ lại trở thành lừa dối dân tộc với hậu họa đã có thể nhìn thấy trước.
VOA: Ông căn cứ vào đâu để xác quyết như vậy, trong khi Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Nguyễn Phú Trọng khi đi thăm Ấn Độ mới đây khẳng định rằng “Việt Nam chưa thấy cần thiết có chế độ đa đảng”?
TS Cù Huy Hà Vũ: Chính sử của đảng cộng sản Việt Nam ghi rõ: tháng 2 năm 1930 dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc, đảng cộng sản Việt Nam được thành lập trên cơ sở hợp nhất ba đảng theo Đệ tam Quốc tế là Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn. Do đó, với phát biểu “Việt Nam chưa thấy cần thiết có chế độ đa đảng”, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng, từng là Chủ tịch Hội đồng lý luận Trung ương và là đương kim Phó Trưởng Tiểu ban thường trực Tiểu ban cương lĩnh và Báo cáo chính trị Đại hội toàn quốc Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ XI, không chỉ cho thấy ông này, oái oăm thay, hoặc lú lẫn hoặc thực hiện “chính sách đà điểu” – rúc đầu vào cát để khỏi nhận chân sự thực đang diễn ra chung quanh – mà nghiêm trọng hơn, đã xuyên tạc trắng trợn lịch sử dân tộc Việt Nam đương đại, xuyên tạc trắng trợn lịch sử của chính Đảng Cộng sản Việt Nam.
Nói cách khác, việc ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay khăng khăng chống đa đảng dứt khoát là hành vi phản bội dân tộc, phản bội ngay chính Đảng cộng sản Việt Nam. Một sự phản bội như vậy chắc chắn không chỉ nhân dân Việt Nam không dung mà hàng triệu đảng viên cộng sản và bản thân Hồ Chí Minh – nếu quả thật “sống mãi” như khẩu hiệu của đảng – cũng không tha. Do đó, tôi nhắc lại một lần nữa, quay lại chế độ Đa đảng là con đường sống duy nhất đối với Đảng cộng sản Việt Nam.
VOA: Thưa Tiến sĩ, giả sử Đảng cộng sản Việt Nam làm theo như ông nói thì có thể có những kịch bản nào xảy ra?
TS Cù Huy Hà Vũ: Sẽ có hai kịch bản sau đây cho Đảng cộng sản Việt Nam:
Thứ nhất, Quốc hội chủ động hủy bỏ Điều 4 Hiến pháp.
Thứ hai, Quốc hội quyết định Trưng cầu dân ý về Điều 4 Hiến pháp.
Cả hai kịch bản đểu để ngỏ cửa cho Đảng cộng sản Việt Nam tiếp tục lãnh đạo đất nước cũng như dành một lối thoát danh dự trong trường hợp đảng không dành được tín nhiệm của đa số cử tri.
VOA: Xin trân trọng cảm ơn Tiến sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ về sự chân thành và thẳng thắn, cũng như thời gian mà ông đã dành cho VOA trong cuộc phỏng vấn này.
***
Ông Hồ Chí Minh và cái đảng cộng sản tráo trở, lá mặt lá trái của ông đã ngang nhiên cướp công kháng chiến của toàn dân trong công cuộc đánh đuổi thực dân Pháp, ôm hết công lao về mình, để dành độc quyền lãnh đạo đất nước và tự “vẻ bùa cho mình đeo” rằng tuyệt đại đa số nhân dân tín nhiệm cái đảng cộng sản thần thánh của mình nhưng thực chất nó là một thứ đảng “ôn dịch” rất ư là “thổ tả”, rất ghê tởm của nhân loại nói chung và của Việt Nam nói riêng.
Sau khi truất phế Hoàng đế Bảo Đại để cướp ngôi, Hồ Chí Minh vẫn chưa hả lòng tham, ông ta muốn chiếm đọat luôn cả miền Nam mới thỏa cuồng vọng của mình. Vì vậy hiệp định Geneve chia hai miền Nam Bắc, lấy vĩ tuyến 17 làm phân giới vừa ký xong, họ Hồ lập tức lạy lục cầu viện hai đế quốc Cộng sản là Trung Quốc và Liên Xô giúp mình vũ khí, tài lực để thôn tính miền Nam. Thuận đà bành trướng chủ nghĩa cộng sản, Trung-Xô muốn đưa làn sóng đỏ xuống vùng Đông Nam Á nên đã dốc toàn lực về người và của giúp cho họ Hồ toại nguyện.
Sau hơn hai mươi năm, hàng triệu thanh niên miền Bắc đã phải hy sinh, xương phơi trắng cả dãy Trường Sơn trên con đường “Sinh Bắc tử Nam”, tham vọng của ông ta đã đạt được nhưng tiếc thay ông không được hân hạnh ( hay ân hận) để thấy ngày này.
Vì quá tham lam, ông đã chết trong uất ức bởi sự nóng vội xua quân vào đánh chiếm miền Nam dịp Tết Mậu Thân, 1968. Ông đã thua đậm và đau trong ván bài tháu cáy với gần nửa triệu bộ đội bị tử thương.
Chủ trương của ông Hồ trước sau vẫn là “Miền Bắc xâm lăng, thôn tính Miền Nam” để hoàn thành sứ mạng nhuộm đỏ miền Nam theo lện lện quan thầy cộng sản Quốc tế nhưng cứ trưng chiêu bài bịp bợm là “Giải phóng miền Nam” để lừa gạt người dân trong nước và thế giới. Thực tế, sau năm 1975, sự trả thù nghiệt ngã lên nửa triệu quân, cán, chính, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa và bộ đội, cán bộ miền Bắc ào vô Nam thẳng tay cướp bóc, vơ vét của cải của dân miền Nam đã chứng minh miền Bắc xâm lược miền Nam giống như nước này đi xâm lược, cướp nước khác ở thời trung cổ.
Ngày nay, Tiến sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ với quả bom “áp nhiệt” của nữ khoa học gia Dương Nguyệt Ánh, đã thực sự làm nổ tung sào huyệt, thành lũy dối trá của tập đoàn Bắc Bộ phủ và sự thật trắng trợn, trơ trẽn đã phơi bày.

Về Hội Nhà văn Cộng sản Việt Nam.
Hội Nhà văn này từ khi thành lập cho đến nay, quần chúng vẫn cứ gọi bằng cái tên “Hợp tác xã văn nô”. Bởi cả cái tập thể gọi là “văn nghệ sĩ” này xưa nay được huy động vào việc ca ngợi ông Hồ Chí Minh, ca ngợi chế độ. Các tác phẩm không cần thỏa mãn nhu cầu thẩm mỹ người đọc mà phải “thỏa mãn tính kiêu căng, tự mãn” của ông Hồ và đảng của ông. Tác phẩm không được phản ảnh đúng hiện thực của xã hội mà phải “tô hồng” với ta, “bôi đen” với địch.
Văn nghệ sĩ vốn là kẻ tự do, tự do tư tưởng, tự do sáng tác theo trái tim của mình và làm chức năng “tải đạo”, nay dưới chế độ xã nghĩa họ đều trở thành văn nô, viết gì, viết thế nào đều có sự lãnh đạo của nhà cầm quyền cộng sản vì nhà cầm quyền trả lương cho họ. Tất cả hội viên của Hội Văn học Nghệ thuật đều ăn lương của Hội, cũng chịu sự xếp lương của cán bộ tổ chức y như các ngành nghề khác. Bậc lương của họ không tùy thuộc vào tác phẩm, vào tài năng mà căn cứ vào sự “tự nguyện hóa thành văn nô” của họ. Quyền lợi rất khác biệt thay đổi theo bậc lương, chênh lệch một trời, một vực, từ chế độ đau ốm, nơi khám bệnh, nơi mua hàng theo giá rẻ cho đến nhà ở, điện, nước, giường nằm, xe hơi… đều do Đảng cung cấp. Do đó cái đám văn nô này gồm nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình văn học cũng như những nhà lý luận ai ai cũng cố tranh nhau lên tiếng ca ngợi “Bác, Đảng”. Có kẻ còn nghiến răng, trợn mắt, bặm môi, giơ nắm đấm cố gào to lên chứng minh rằng mình là người trung kiên với Bác với Đảng nhất. Và từ đó nẫy sinh ra sự kèn cựa, nói xấu nhau, chửi nhau thậm tệ để tranh chổ ngồi.
Người ngoài nhìn vào thấy đám văn nô này rõ là một đám “ỉa bậy” chuyên “ỉa vào mồm nhau” chỉ để tranh ăn chứ chẳng phải làm nghệ thuật gì ráo.
Cứ năm năm Hội lại bầu bán một lần, sắp xếp lại nhân sự trong ban chấp hành. Lại là dịp tranh dành quyền hành, đấu đá chí chết.
Năm nay, Đại hội lần thứ 8, diễn ra tại Học viện Chính trị – Hành chánh Quốc gia Hồ Chí Minh (Hà Nội) từ ngày 4 đến 6 tháng 8/2010. Nhiều nhà văn, nhà thơ trong nước đặt câu hỏi tại sao lại phải họp ở nơi đào tạo cán bộ chính trị cấp cao của đảng mà không ở một nơi “thường dân” hơn, chẳng hạn như ở một khách sạn, một trường Đại học hay một cơ sở văn hóa?
Câu trả lời là, theo tường thuật của ViệtNamNet, ông Phùng Hữu Phú, Phó trưởng ban thường trực Ban Tuyên giáo Trung Ương có mặt tại Hội nghị đã xác nhận: “Đại Hội Nhà văn lần thứ 8 được lãnh đạo Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm. Đã có một Ban chỉ đạo đại hội được thành lập, Ban này không can thiệp vào công việc nội bộ của đại hội mà hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi nhất để đại hội thành công nhất.” nên địa điểm họp tại đây là thích hợp nhất.
“Không can thiệp vào công việc nội bộ” nhưng lại cử Đào duy Quát, nguyên Phó Trưởng ban Tư tưởng-Văn hóa Trung Ương ngồi vào Ban chỉ đạo!
Không can thiệp nhưng chỉ nhắc nhở: “Hội Nhà văn Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, Hội hoạt động theo đường lối văn hóa văn nghệ của Đảng, chịu sự quản lý của Nhà nước và tuân thủ theo qui định của pháp luật Nhà nước Cộng hòa XHCNVN.”Tại Đại hội này, nhà văn “dũng sĩ” Trần Mạnh Hảo, đã cho nổ quả bom “áp nhiệt” thứ hai có tên là “Chỉ có sự thật mới giải phóng con người, giải phóng văn học và đất nước”.
Bom nổ rung chuyển hội trường, làm cho Ban tổ chức nhốn nháo, cuống cuồng nhào đến ông, kẻ bịt mồm, kẻ giật micro, kẻ cúp điện tắt âm thanh và bằng mọi cách không cho ông mở mồm để… nói.
Sự việc diễn ra trong hội trường lúc bấy giờ rất hỗn loạn nhưng chứa đầy màu sắc hài hước được các báo “lề trái” tường thuật tỉ mỉ.
Trang BauxiteVN của GS Nguyễn Huệ Chi đăng tải đầy đủ, xin tóm lượt vài điểm chính như sau:
Dũng sĩ Trần Mạnh Hảo tuyên bố:
“Ông cha chúng ta đã đánh thắng giặc Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh… để bảo tồn đất nước. Nhưng tất cả các thứ giặc đó cộng lại cũng không ghê gớm bằng giặc nói dối đang tàn phá Tổ quốc ta, giống nòi ta. Nếu nhân dân ta không vùng lên đánh tan BỌN GIẶC CÓ TÊN LÀ DỐI TRÁ, chắc chắn đất nước ta sẽ bị kẻ thù phương Bắc nuốt chững. Vì thế. “Văn học nghệ thuật phải phản ánh sự thật của đất nước hôm nay”. Muốn phản ảnh được sự thật của đất nước hôm nay, việc trước tiên của chúng ta là phải nhìn ra sự thật, gọi đúng tên sự vật, không phải sự thật tô hồng hay sự thật bôi đen, mà sự thật đúng như nó đang tồn tại khách quan quanh ta.
Lâu nay, vẫn nghe dân gian xì xào nửa hư nửa thực rằng: “ Các thế lực thù địch nói cái gì hình như cũng đung sắc đúng, Ban Tuyên giáo Trung Ương nói cái gì hình như cũng sờ ai sai…”
Lần này, Ban Tuyên giáo Trung Ương, thông qua cuộc hội thảo cấp Nhà nước “Văn học nghệ thuật hướng vào sự thật của đất nước” đã khuyến khích mọi người nói lên sự thật. Vì vậy tôi mạnh dạn nói lên sự thật mà toàn là sự thất chết người, sự thật mà chính quyền cố tình giấu diếm vì món lợi của quyền lực, với sự ngụy biện chống lại lẽ phải, chống lại chân lý: “Nói ra sự thực lúc này không có lợi”. Chả lẻ vì cái lợi, vì miếng ăn mà chúng ta đành phải nói dối hết đời ông đến đời cha, hết đời con đến đời cháu hay sao? Vậy chừng nào Nhà nước Việt Nam mới cho người dân chúng tôi công khai nói ra sự thật đây? Chúng tôi đành lấy lời dạy của K.Marx là bùa hộ mạng: “Sự thật là tiêu chuẩn của chân lý” để một lần cuối cùng nói ra sự thật của đất nước chúng ta, dẫu có bị làm phiền, thậm chí bị tù đầy cũng mặc. Một kẻ nói dối, một dân tộc nói dối, “lộng giả thành chân”, là một kẻ, một dân tộc không có tự do, không có độc lập, không có dân chủ, không có chân lý và lẽ phải… Khi một kẻ, một dân tộc phải núp vào sự dối trá để tồn tại, kẻ đó, dân tộc đó là một kẻ yếu, một dân tộc yếu đang trên đường suy vong. Chỉ có kẻ mạnh, kẻ tự tin, kẻ có liêm sỉ, có đạo đức mới không sợ sự thật, dù là sự thật đau đớn nhất, khủng khiếp nhất mà thôi.
Chúng tôi xin kể ra SỰ THẬT ĐẤT NƯỚC qua mắt mình, cái mà nền văn học của chúng ta lâu nay lãng tránh, làm ngơ, mặc “quốc gia hưng vong”, “thất phu” thay vì “hữu trách” thì hầu như cánh “thất phu” nhà văn thảy đều “tắc trách”… Chúng tôi mong 700 tờ báo của lề phải, tức báo của Đảng và Nhà nước, hãy hạ cố chỉ ra những sư thật mà chúng tôi gọi trong bài tham luận này đúng hay sai. Còn nếu quí vị dùng công an hay nhà tù để đối thoại với chúng tôi quí vị đã mặc nhiên thừa nhận chúng tôi nói đúng, chỉ vì đuối lý mà quí vị phải dùng hạ sách là làm phiền chúng tôi, đe dọa chúng tôi thì quí vị đã không chính danh quân tử, dùng nền chính trị bá đạo ứng xử với người dân, khi người dân dám nói lên sự thật để hy vọng trên đất nước đau thương và cam chịu này le lói một nền chính trị vương đạo, dựa vào sự thật, lương tri và lẽ phải. Trong hàng trăm sự thật nhãn tiền của đất nước, chúng tôi chỉ xin kể ra ba sự thật mà thôi.
SỰ THẬT MỘT
-Số phận dân tộc ta, đất nước ta đang có cơ tiêu vong vào tay ngoại bang bởi 16 chữ vàng rất ngọt ngào trói buộc Đảng cầm quyền và Nhà nước Việt Nam phải nhân nhượng kẻ xâm lược hết điều này đến điều khác, để rồi mất dần biên giới đất liền, biển đảo…
-Đạo đức xã hội tha hóa tới mức cuối cùng, con người hầu như không còn biết tới liêm sỉ và lẽ phải… Một Chủ tịch tỉnh Nguyễn Trường Tô và nhiều quan chức cao cấp trong tỉnh Hà Giang chơi gái vị thành niên do ông Hiệu trưởng Sầm Đức Xương bắt các cháu nữ sinh trong trường làm điếm, nhằm cống nạp cho các quan đầu tỉnh.
-Nền giáo dục Việt Nam hôm nay là một nền giáo dục thiếu trung thực. Đạo đức hôm nay đồng nghĩa với dối trá: Thầy dối trá thầy, trò dối trá trò, quản lý giáo dục báo cáo láo cốt lấy thành tích, nạn mua bán bằng cấp, bán đề thi, mua quan bán tước đang là đại họa của nền giáo dục. Việc chính trị hóa môn văn, môn lịch sử, môn triết học, chính trị hóa nền giáo dục… đã tạo cơ sở cho sự dối trá làm bá chủ đất nước.
SỰ THẬT HAI
-Hiện nay trên đất nước ta, giặc nội xâm có tên là tham nhũng đang ngang nhiên hoành hành khủng khiếp như nạn dịch hạch. Dân có tham nhũng không? Không! Thế thì ai là giặc nội xâm? Là giặc tham nhũng? Thưa, Chính quyền! Chỉ kẻ có chức, có quyền mới tham nhũng!
SỰ THẬT BA
Đảng và Nhà nước nói một đàng làm một nẽo. Những nguyên tắc, nguyên lý, luật pháp, chính sách, đường lối của Đảng cầm quyền và Nhà nước Việt Nam hiện nay hầu hết đều không chính danh. Trong Hiến pháp của nước CHXHCN Việt Nam người dân được hưởng tất cả các quyền: quyền sống, quyền làm người, quyền hoạt động chính trị, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do lập hội, lập đảng phái, quyền biểu tình, tự do tôn giáo, tự do cư trú, tự do đi lại, tự do đủ thứ… Nhưng thực tế, người dân không được một chút quyền cỏn con nào. Bất cứ ai đụng đến một trong các quyền ấy đều bị trấn áp và bỏ tù.
Hội Nhà văn không phải là dàn hợp xướng để hát theo cái gậy chỉ huy của người nhạc trưởng. Nó là lãnh địa của những tư duy và sáng tạo cá nhân, nó là một tổ chức xã hội nghề nghiệp tự nguyện của các nhà văn lấy sứ mạng phục vụ Tổ quốc và nhân dân trên hết.
Tin giờ chót.
Sau khi Đại hội Nhà văn lần thứ 8 kết thúc “thành công tốt đẹp”, nhà thơ Đỗ Trung Quân có lời bình: Vinh dự gì mà xưng danh cầm bút? Đã viết:
“Đại hội Nhà văn Việt Nam rồi cũng qua. Rồi cũng “thành công tốt đẹp”. Nhưng nó có ảnh hưởng gì tới tinh thần người dân? Xin nói thẳng: chẳng có một xu ảnh hưởng. Người dân vẫn sống, vẫn khổ. Còn nhà văn vẫn cứ “tự sướng” bằng những trò “diễn ngâm” vô bổ với nhau.
Có ai dám nhìn thẳng vào sinh mệnh đất nước? Có ai dám nhìn thẳng vào thân phận người dân?
…Thôi nhá! Còn chút tự trọng thì hãy nhớ dùm cho điều nhỏ nhoi này:Nếu không đủ sức làm văn chương nghiêng trời lệch đất thì hãy giữ lại chút tự trọng cuối cùng. Im lặng mà sống cho hết những ngày thừa. Đã ở quá xa người dân, đã bịt tai, bịt mắt với đất nước trước bọn ăn cướp sát nách, thì im lặng đi. Nếu không được như thế thì đừng là con rắn tự cắn đuôi mình. Đừng tự xưng mình kẻ sĩ cho danh giá, cười cợt lẫn nhau.Nhớ đấy! Vinh dự gì mà xưng danh cầm bút?

Một ngòi bút khác lại chào mừng kết quả Đại hội Nhà văn một cách trào lộng: V. Quốc Uy. Ông viết như sau:
“Về những diễn biến và kết quả của đại hội Nhà văn lần thứ 8 vừa qua, ý kiến chung là buồn, là ghét, là khinh, là thất vọng… Phần tôi, thưa các bác, cho tôi được “phản biện”: Tình hình ở Hội Nhà văn như vậy theo tôi là tốt là đáng mừng! Chẳng những mừng mà tôi còn sung sướng đến phát điên, như vừa sống sót sau một thiên tai! Và tôi dám quả quyết ý kiến của mình là đúng!
Này nhá! Thử hỏi nếu xã hội XHCN ưu việt này mà đẻ ra được một Hội Nhà văn có nhân cách thì có mà… TRỜI SẬP! Vâng, dứt khoát sập. Khi ấy thì có chết cả nút chứ mọi người còn ngồi đây mà bình luận được ư?
Thôi, xin mọi người mở sâm banh để tạ ơn ông Hữu Thỉnh và đa số văn nhân của Hội đi. Họ lỳ để cứu rỗi chúng ta, vĩ đại thật chứ bỡn à”?
Xã hội Việt Nam ngày nay là một xã hội đểu, do cái đảng đểu đẻ ra. Tất cả mọi người đối xử với nhau bằng thái độ đểu cáng. Đểu không thể tả được. Đểu không còn cách nói. Đểu khắp nơi. Đểu mọi lúc. Chính trị đểu. Giáo dục đểu. Đạo đức đểu. Tôn giáo đểu…
Ai không chịu khép mình, cúi đầu theo cái xã hội đểu hiện nay, tìm cách thoát ra hoặc tố cáo chúng, tất sẽ bị guồng máy cai trị đểu khổng lồ của đảng nghiền nát ngay lập tức.Trước những người con có lòng với quê hương, đau đáu với cái đau của Tổ Quốc, lo lắng cho đất nước trước nguy cơ cấp bách rơi vào tay ngoại bang như TS Luật Cù Huy Hà Vũ, như nhà văn Trần Mạnh Hảo, như nhiều người có tâm huyết khác, dám dũng cảm nói lên “sự thật” để lật tẩy những điều bịp bợm, dối trá mà đảng cộng sản Việt Nam cố tình bưng bít, âm thầm cấu kết với Tàu phù, trong mưu đồ mãi quốc cầu vinh, thay vì sẽ được lắng nghe và kịp thời dừng lại, sửa chửa thì bị đảng và Nhà nước cộng sản thẳng tay đàn áp, bịt miệng, khủng bố và có thể ám sát bằng mọi thủ đoạn đê hèn.
Thượng tướng công an Nguyễn văn Hưởng đã chứng tỏ mình là một tên côn đồ vô học có hạng. Tiếp theo vụ Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký quyết định cấm đoán các trung tâm nghiên cứu độc lập phản biện công khai về các vấn đề chính sách, do đó mà viện IDS đã tuyên bố tự giải thể để phản đối, thượng tướng Hưởng đã gặp một số trí thức, dõng dạc tuyên bố: “Nước ta Đảng lãnh đạo. Không có phản biện gì cả. Phản biện là phản động. Các anh muốn phản biện hả, nhà tù còn nhiều chổ lắm! Mà chẳng cần bắt bớ tù đầy làm gì, thời buổi này tai nạn giao thông là chuyện cơm bữa, mà cũng chẳng cần tông xe làm gì, buổi sáng các vị đi uống cà phê, về tới nhà cứng đơ, không làm gì được nữa, có nghĩa là bị bỏ độc.”
Thật là mặt dầy như da đít trâu mới có thể mở mồm nói trắng trợn, sống sượng như thế.
Trong quá khứ đảng đã ra tay như thế rồi. Trong cuộc họp Quốc hội, cụ Dương Bạch Mai mới hé mồm ra nói một tí sự thật, lúc giải lao, vừa uống một ly nước liền ngã lăn ra chết tại chỗ.
Chỉ có cái đảng lưu manh, côn đồ như cộng sản Việt Nam mới đẻ ra thằng Hưởng ác và đểu hết nước như thế.

Nguyễn Thanh Ty Boston, 09/8/10

302.Biện minh trạng bênh vực Cù Huy Hà Vũ[2]

Biện minh trạng bênh vực Cù Huy Hà Vũ[2]

Tiếp theo Phần I

CHHV

Khi viết bản “Biện Minh Trạng” phần 2 này, là một luật gia, người viết mong mỏi có sự góp ý, thảo luận, tranh luận của nhiều nguời trong giới luật gia đã hay đương hành nghề từ trong nuớc ra tới hải ngoại. Mục đích của cuộc thảo luận hay tranh luận không phải để hơn thua cá nhân hay phe nhóm mà nhằm dựa trên học lý để tìm ra “công lý trong khuôn khổ Hiến Pháp và luật pháp hiện hành của Việt Nam” cho vụ án Cù Huy Hà Vũ, một vụ án tiêu biểu trong những vụ án thường có ở Việt Nam liên quan tới điều 88 BLHS.

Sở dĩ người viết coi vụ án Cù Huy Hà Vũ là tiêu biểu trong các vụ án bị khởi tố dựa trên điều 88 BLHS vì Cù Huy Hà Vũ là một luật gia tốt nghiệp Viện Đại Học Sorbonne, một trong những trường  luật hàng đầu trên thế giới, nên mỗi hành xử của ông phải đuợc ông cân nhắc và coi là “không vi phạm pháp luật Việt Nam.”

Thế nhưng Viện Kiểm Sát Nhân Dân (VKS), đại diện quyền lợi xã hội lại cho rằng hành vi của ông Cù Huy Hà Vũ vi phạm điều 88 BLHS.

Quan điểm của tòa án thì chưa biết.

Với tư cách là luật gia, chúng ta, hoàn toàn dựa vào các lý thuyết luật học, nên đóng góp ý kiến vào vụ án để tìm ra một “công lý trong khuôn khổ Hiến Pháp và luật pháp hiện hành của Việt Nam” dù rằng đó chưa phải là một công lý đích thực, phổ biến trong xã hội văn minh ngày nay. Cuộc thảo luận có thể giúp các chánh án và kiểm sát viên thuộc Viện Kiểm Sát hiểu biết thêm về lý thuyết luật học, một việc rất quan trọng trong việc khởi tố và xét xử. Cuộc thảo luận cũng giúp các luật sư có thêm kiến thức sắc bén khi biện hộ. Ngoài ra, cuộc thảo luận cũng sẽ giúp người dân hiểu thêm đâu là giới hạn pháp lý họ được quyền hành động mà không sợ bị bắt bớ, bỏ tù. Công lý đó có thể nghiêng về phía quan điểm của VKS, nghĩa là Cù Huy Hà Vũ có phạm tội (dựa theo điều 88 BLHS).

Quan điểm đó có thể nghiêng về phía Cù Huy Hà Vũ, nghĩa là ông không phạm tội (dựa theo điều 88 BLHS).

Cuộc thảo luận hoàn toàn dựa trên lý thuyết luật học, nghĩa là không dựa vào những quan điểm chính trị, đồng thời hoàn toàn dựa vào hiến pháp và luật pháp hiện hành ở Việt Nam. Những điều uớc quốc tế có thể được viện dẫn trong truờng hợp Việt Nam có tham gia hay ký kết những điều ước đó, chỉ để nhằm làm sáng tỏ những ý niệm trùng hợp của hai nhóm luật chứ không thể dùng làm biện minh hay kết tội có tính cách quyết định. Tương tự như vậy, những hiến pháp và luật pháp của các nước văn minh cũng có thể được viện dẫn trong cuộc tranh luận nhưng chỉ được dùng như phương pháp nghiên cứu luật đối chiếu nhằm làm sáng tỏ những ý niệm tương tự đang có trong luật Việt Nam chứ cũng không thể được dùng làm những kết luận.

Để mọi phát biểu được hoàn toàn tự do, thoát khỏi sự lo sợ bị đàn áp của chính quyền hay lo sợ dư luận độc giả phản đối, người phát biểu có thể dùng bút hiệu hay bí danh.

Ngoài ra, những sinh viên các trường đại học luật  tại Việt Nam, nhất là những sinh viên đã hoàn tất giáo trình môn Luật Hình Sự và Luật Hình Sự Tố Tụng cũng được khuyến khích tham gia thảo luận để thực tập việc áp dụng những kiến thức vừa thu thập được.

Để dễ dàng cho cuộc thảo luận, người viết ghi lại nguyên văn vài trích đoạn cần thiết của bản cáo trạng của VKS. Trong bản cáo trạng, sau khi viện dẫn các tài liệu thu thập được, VKS đã đi tới kết luận, “Với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được, xác định:

Các bài viết và trả lời phỏng vấn của Cù Huy Hà Vũ nêu trên đã có nội dung tuyên truyền chống Nhà nuớc Cộng hòa xã hội chủ nghia Việt Nam, xuyên tạc đuờng lối chính sách của Đảng và Nhà nước, phỉ báng chính quyền và thể chế nhà nước, xuyên tạc cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược, đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, đòi đa nguyên, đa đảng tạo điều kiện để các đối tượng phản động lợi dụng chống phá Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.”

…Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Truy tố bị can Cù Huy Hà Vũ …về tội: Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo điểm c, khoản 1, điều 88 BLHS.”

Bản cáo trạng cũng ghi thêm:

“Điều 88. Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam:

1. Nguời nào có một trong những hành vi sau đây nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm:

c) Làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, văn hóa phẩm có nội dung chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.”

Mười bài báo của ông Cù Huy Hà Vũ được VKS dùng làm bằng chứng buộc tội được người viết đánh số theo thứ tự từ 1 tới 10, và liệt kê làm hai loại bằng chứng cho dễ theo dõi và viện dẫn:

Loại bằng chứng đòi bãi bỏ điều 4 HP có 4 bài:

+ Bài 3: “TS Cù Huy Hà Vũ từ khởi kiện thủ tướng đến yêu cầu xóa bỏ điều 4 Hiến pháp”. Vũ trả lời phỏng vấn đài VOA khoảng tháng 6/2010, đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, kêu gọi xóa bỏ điều 4 Hiến pháp với lời lẽ: “…Dứt khoát là sự mạo nhận của Đảng Cộng sản Việt Nam, không phải do bầu cử mà có nên quyết không thể là “chính danh”. Mà Đảng đã không “chính danh” thì không thể lãnh đạo bất kì ai”. Vũ khẳng định: “Tóm lại, điều 4 Hiến pháp Việt Nam là hoàn toàn phi lý và vì vậy dứt khoát phải xóa bỏ…”. ( BL 139, 140, 148, 164 đến 167, 213 đến 226, 277 đến 286, 333 đến 342, 654 đến 675, 696 đến 702, 744 đến 753, 1148 đến 1152).

+ Bài (5) phóng viên Trâm Oanh phỏng vấn Cù Huy Hà Vũ vào tháng 10/2010 có nội dung tuyên truyền, xuyên tạc chủ nghĩa Mác – Lê Nin, đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam bằng lời lẽ: “…chính quyền dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN hiện nay đang ngày càng trở nên thối nát…”, “…Đại hội Đảng lần thứ XI là Đại hội cuối cùng của ĐCSVN…” (BL 142, 198 đến 201, 255).

+ Bài 9 “ Bàn về Đảng cầm quyền”, Vũ đang viết, chưa xong. Nội dung phỉ báng, xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam bằng lời lẽ: “… Đảng cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền hay độc tài?… chế độ chính trị ở Việt nam trên thực tế là chế độ độc đảng hay độc tài” ( BL 141, 256, 257).

+ Bài 10 “ Bom áp nhiệt nổ giữa Ba Đình” do tác giả Nguyễn Thanh Ty viết, Vũ lưu giữ tại nhà, nội dung xuyên tạc Đảng cộng sản Việt Nam, phỉ báng chính quyền.(BL 192, 193, 194, 305 đến 314).

Cơ quan An ninh điều tra đã trưng cầu giám định âm thanh ( giọng nói) trong đĩa CD do Sở Thông tin và truyền thông TP Hà Nội cung cấp nội dung thu lại bài trả lời phỏng vấn phóng viên Trâm Oanh – đài truyền thanh ở Đức của người tự xưng là tiến sỹ Cù Huy Hà Vũ, Viện khoa học hình sự – Bộ Công an kết luận đó là giọng nói của Cù Huy Hà Vũ. ( BL 39)

Loại bằng chứng xuyên tạc, phỉ báng chính quyền, bóp méo sự thật có 6 bài:

+ Bài 1 “Phải đa đảng mới chống được lạm quyền”, Vũ trả lời phỏng vấn đài Châu Á Tự Do (RFA) ngày 01/2/2010, Vũ xuyên tạc, phỉ báng chính quyền bằng lời lẽ: “hiện nay ở Việt Nam người ta sử dụng ngân sách vô tội vạ và rất nhiều tiền từ ngân sách Nhà nước chi vào những việc thậm chí là Mafia… để có được chế tài đối với những kẻ cướp ngày… thì tôi Cù Huy Hà Vũ khẳng định: Cách duy nhất là phải có chế độ đa đảng tại Việt Nam” ( BL 141, 148, 227 đến 237, 255 ).

+ Bài 2: “Chiến tranh Việt Nam và ngày 30 tháng 4 dưới mắt tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ”. Vũ trả lời phỏng vấn đài VOA ngày 29/ 4/2010 với nội dung xuyên tạc cuộc kháng chiến chống Đế quốc Mỹ xâm lược bằng lời lẽ: “…Tóm lại, việc duy trì cho Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục lãnh đạo đất nuớc không khác hơn là để phục vụ lợi ích phi pháp một nhóm nhỏ trong Đảng Cộng sản Việt Nam, đi ngược lại với lợi ích của đại đa số nhân dân trong đó có hàng triệu đảng viên cộng sản và vì vậy quyết không thể kéo dài hơn được nữa”. “Nhân đây, một lần nữa tôi kêu gọi ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam mau chóng thực hiện chế độ đa đảng ở Việt Nam bởi nếu không, hòa hợp, hòa giải dân tộc sẽ trở thành lừa dối dân tộc với hậu họa đã có thể nhìn thấy truớc…”.( BL 140, 141, 170 đến 174, 238 đến 242, 260 đến 269, 909 đến 915, 1144 đến 1147).

+ Bài  8“Đuờng sắt cao tốc Bắc Nam – Dự án tham nhung”, Vũ trả lời phỏng vấn đài VOA thời gian năm 2010, nhưng Vũ chưa đồng ý nội dung nên đài VOA chưa đăng tải. Tài liệu này Vũ lưu giữ trong máy tính xách tay, USB. Nội dung phỉ báng chính quyền, thực hiện dự án chỉ nhằm mục đích tham nhũng bằng lời lẽ: “ … tuy nhiên tham nhũng, giữa hai chính quyền có điểm này khác biệt một cách cơ bản: Chính quyền Sài Gòn chỉ tham nhũng vào viện trợ không hoàn lại hay là “cho không của Mỹ”, còn chính quyền cộng sản thì “ăn” ngay vào tài sản của nhân dân Việt Nam, từ đồng tiền của người dân, đất đai tài nguyên cho đến các khoản vay nước ngoài của chính phủ dẫn đến con cháu sau này phải oằn lưng trả nợ”( BL 196, 197, 258, 259).

+ Bài 6: “Tam quyền nhất lập” đồng lòng hại dân. Vũ viết và gửi trang “Bauxite VietNam” có nội dung tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền và thể chế Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam với lời lẽ: “…Vậy là cả Chính phủ, Tòa án, Quốc hội, cả hành pháp, tư pháp và lập pháp đồng lòng hại dân. ngược lại 180 độ với Hiến pháp tại điều 2…ai chỉ ra được cách nào để cứu những nguời dân “ côi cút làm ăn” kia khỏi sự bức hại tập thể “ tam quyền không phân lập” hay “Tam quyền nhất lập” nói trên ở Việt Nam… “. ( BL 149, 243 đến 248, , 461 đến 464 ).

+ Bài 7 “Bà Trần Khải Thanh Thủy cố ý gây thương tích và dấu hiệu bẫy nguời khác phạm tội” . Vũ viết sau khi một số báo đưa tin về việc Trần Khải Thanh Thủy và Đỗ Bá Tân bị bắt; nội dung xuyên tạc, phỉ báng chính quyền trong việc bắt giữ, điều tra Trần Khải Thanh Thủy về tội cố ý gây thương tích với lời lẽ: “…mới chỉ qua nguồn tin “một bề” do Công an quận Đống Đa cung cấp cho báo chí nhà nuớc, vụ bà Trần Khải Thanh Thủy “cố ý gây thuong tích” đã có dấu hiệu rõ rệt của một vụ khiêu khích hay bẫy người khác phạm tội thực hiện bởi chính co quan trấn áp tội phạm”(BL 141, 208 đến 212).

+ Bài 4: “Kiến nghị trả tự do cho tất cả tù nhân cựu quân nhân và viên chức chính quyền Việt Nam cộng hòa, lấy “ Việt Nam” làm quốc hiệu để hòa giải dân tộc”. Vũ trả lời phỏng vấn đài RFA ngày 31/8/2010, đồng thời gửi lên trang “Bauxite Vietnam”. Vũ bóp méo sự thật về cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Phê phán Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gây chia rẽ, thù hằn dân tộc bằng lời lẽ: “ …Tiếc thay cho ban lãnh đạo nhà nuớc Việt nam thống nhất đã không làm được như thế mà ngược lại – phải nói thật – còn sát muối vào vết thương chiến tranh chưa kịp lên da bằng việc tập trung cải tạo trong hàng năm trời cả trăm nghìn quân nhân viên chức VNCH, ….đẩy không ít nguời Việt thuộc chính quyền cũ vào vòng xoáy thù hận, dẫn đến một số quay ra chống chính quyền mới để rồi bị kết tội xâm phạm An ninh quốc gia.”(BL138, 139, 148, 156, 157, 158, 303, 304, 329 đến 331, 431 đến 460).

*

MÀN 1 (đã kết thúc ở phần I)

Sau khi luật sư biện hộ chấm dứt ba yêu cầu tiên quyết (trong phần 1), chánh án đã bác bỏ ba yêu cầu này.

MÀN 2 (bắt đầu phần II của bản biện minh trạng)

Chánh án: Tất cả các điều tiên quyết do luật sư biện hộ nêu lên đều không hợp lý (?!) Tòa tuyên bố tiếp tục phiên xử theo điều kiện hiện tại (?!)

(Mọi người đều ngơ ngác!)

- Luật sư: Thưa quí tòa, trước tiên, tôi xin lưu ý quí tòa một nguyên tắc quan trọng của hình luật là “Hình Luật phải được giải thích một cách chặt chẽ.” Ở đây chúng tôi thấy cần phải phân biệt “Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghia Việt Nam” và “Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam”.

Theo Hiến Pháp, Nhà Nuớc Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam không phải là Nuớc Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Điều 1 HP qui định: “Nuớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, các hải đảo, vùng biển và vùng trời.” Một cách tóm tắt, “Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” chính là tổ quốc Việt Nam và có thể gọi vắn tắt là NUỚC VIỆT NAM.

Trong khi Điều 2 HP qui định: “Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa…” Nhà nước này có nhiệm vụ đuợc qui định trong điều 3 HP là, “bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; nghiêm trị mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân.” Như vậy “Nhà Nuớc Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam” là chính quyền, có nhiệm vụ bảo vệ “Nuớc Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” và phục vụ nhân dân Việt Nam. Không thể lẫn lộn “Nuớc Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam”, tức là tổ quốc Việt Nam với  “Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam” là chính quyền, tức là công cụ bảo vệ tổ quốc và nhân dân. Nước Việt Nam thì trường tồn nhưng Nhà Nước Việt Nam, như mọi công cụ khác của con nguời, có thể thay đổi.

Như vậy theo bản cáo trạng của Viện Kiểm Sát Nhân Dân, thân chủ chúng tôi không chống lại Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, không chống lại tổ quốc Việt Nam. Thân chủ chúng tôi chỉ bị truy tố tội “chống lại chính quyền” mà thôi.

Tới đây lại cần phải minh định thế nào là “chống”.  Có hai hình thức “chống”: Chống bằng bạo lực và chống bằng cách phát biểu tư tuởng qua lời nói hay qua mọi phuong tiện truyền thông.

Thân chủ chúng tôi không dùng bạo lực cho nên vấn đề “chống bằng bạo lực” không cần bàn tới.

Thân chủ chúng tôi chỉ “chống bằng cách phát biểu tư tuởng qua những bài viết, lời nói hay qua mọi phuong tiện truyền thông.” Hành động này được gọi đúng nghĩa là “bất đồng chính kiến, hay bất đồng tư tưởng” Ở nước ta việc cấm bất đồng tư tuởng đã chấm dứt từ lâu. Ngày nay nhân dân được quyền bày tỏ bất đồng chính kiến. Trong chuyến thăm Hoa Kỳ tháng 6 năm 2007, Chủ tịch Nguyễn Minh Triết phát biểu rằng “Bất đồng chính kiến là chuyện bình thường, ngay trong Đảng cũng có nhiều ý kiến khác nhau. ”

Bày tỏ ý kiến bất đồng về một vấn đề hay một cơ quan hay một con người tức là phê bình vấn đề đó, cơ quan đó hay con người đó. Trước khi phê bình thì người ta phải theo dõi, giám sát để thu thập thông tin, dữ kiện. Nói cách khác, bày tỏ bất đồng ý kiến tức là xử dụng quyền “theo dõi, giám sát và phê bình” các cơ quan chính quyền. Đây chính là quyền tham gia quản lý Nhà Nuớc và xã  hội, một quyền hiến định.  Điều 53 HP qui định, “Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan Nhà nước…”.

Làm thế nào để người công dân tham gia quản lý nhà nước, tham gia thảo luận các vấn đề của đất nước một cách thẳng thắn mà không bị kết tội “ tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,” như qui định trong điều 88 BLHS? Thưa quí tòa, ở đây rõ ràng cùng một hành động có thể được giải thích theo hai nghia khác nhau: Một nghĩa có lợi cho bị cáo và có lợi cho xã hội là “một hành vi tham gia quản lý nhà nước và thảo luận các vấn đề chung của quốc gia”. Nhưng nếu ác ý với bị cáo,  và đi ngược lại quyền lợi xã hội, thì cũng có thể giải thích đó là những hành vi “tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, một bằng chứng để kết tội bị cáo theo điều 88 BLHS. Thưa quí toà, khi mà một hành vi vừa được coi là một hành động hợp pháp, được luật pháp bảo vệ, vừa bị coi là bằng chứng cho một tội phạm hình sự, thì bằng chứng tội phạm đó ở trong tình trạng đáng ngờ. Và thưa quí tòa, theo nguyên tắc cơ bản của luật Hình Sự, trong trường hợp có sự nghi ngờ về bằng chứng thì tòa phải tha bổng bị cáo. Đây chính là trường hợp của mười bài báo và phát biểu của ông Cù Huy Hà Vũ được VKS dùng làm cơ sở cho việc truy tố ông. Qua mười bài báo viện dẫn, thân chủ tôi chỉ thực hiện những “hành vi tham gia quản lý nhà nước và thảo luận các vấn đề chung của quốc gia.” Bởi thế tôi trân trọng thỉnh cầu ngài chánh án và các vị hội thẩm truyền tha bổng bị cáo Cù Huy Hà Vũ.

Đại diện VKS: Thưa ngài chánh án, các bài báo và phát biểu của bị cáo không thể được coi như những “hành vi tham gia quản lý nhà nước và thảo luận các vấn đề chung của quốc gia” bởi vì những bài báo và những phát biểu đó có nội dung “xuyên tạc đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, phỉ báng chính quyền và thể chế nhà nước, xuyên tạc cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược, đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, đòi đa nguyên, đa đảng”. Đó là những hành vi chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bởi thế chúng tôi xin tòa tiếp tục truy cứu bị can theo điểm c, khoản 1, điều 88 BLHS.

Sau đối chất giữa luật sư bào chữa và đại diện VKS, chánh án tuyên bố tòa tạm ngừng để cùng các vị hội thẩm vào phòng nghị án thảo luận.

Từ phòng nghị án trở ra, ngài chánh án đại diện  hội đồng xét xử tuyên bố: Các luận điểm của vị đại diện VKS và luật sư bào chữa cần được tòa xem xét cặn kẽ và cụ thể dựa trên từng bài báo được VKS dùng làm bằng chứng cho việc truy tố bị can.

(Còn tiếp phần 3: tranh luận về từng bằng chứng.)

Ghi chú: Điều 88. Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam

1.   Người nào có một trong những hành vi sau đây nhằm chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm:

a) Tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân;

b) Tuyên truyền những luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân;

c) Làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, văn hoá phẩm có nội dung chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2.   Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm.

(Còn tiếpfree counters

301. LUẬT AN NINH QUỐC GIA 2004


Nguồn: Internet

LUẬT

CỦA QUỐC HỘI NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
SỐ 32/2004/QH11 NGÀY 03 THÁNG 12 NĂM 2004 VỀ AN NINH QUỐC GIA

Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10;

Luật này quy định về an ninh quốc gia.

 

CHƯƠNG I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Luật này quy định về chính sách an ninh quốc gia; nguyên tắc, nhiệm vụ, biện pháp bảo vệ an ninh quốc gia; quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, công dân trong bảo vệ an ninh quốc gia.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Luật này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; cá nhân, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế cư trú, hoạt động trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập quy định khác thì áp dụng theo điều ước quốc tế đó.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. An ninh quốc gia là sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

2. Bảo vệ an ninh quốc gia là phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh làm thất bại các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia.

3. Hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia là những hành vi xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, an ninh, quốc phòng, đối ngoại, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

4. Nguy cơ đe doạ an ninh quốc gia là những nhân tố bên trong, bên ngoài lãnh thổ Việt Nam có khả năng thực tế gây nguy hại cho an ninh quốc gia của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

5. Cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia là cơ quan chỉ đạo, chỉ huy và đơn vị nghiệp vụ thuộc lực lượng vũ trang nhân dân được giao nhiệm vụ chuyên trách làm tham mưu, tổ chức, trực tiếp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia.

6. Cán bộ chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia là sĩ quan, hạ sĩ quan của cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia được giao nhiệm vụ chuyên trách làm tham mưu, tổ chức, trực tiếp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia.

7. Biện pháp nghiệp vụ là biện pháp công tác của cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia được thực hiện theo quy định của pháp luật.

8. Mục tiêu quan trọng về an ninh quốc gia là những đối tượng, địa điểm, công trình, cơ sở về chính trị, an ninh, quốc phòng, kinh tế, khoa học - kỹ thuật, văn hoá, xã hội thuộc danh mục cần được bảo vệ do pháp luật quy định.

9. Nền an ninh nhân dân là sức mạnh về tinh thần, vật chất, sự đoàn kết và truyền thống dựng nước, giữ nước của toàn dân tộc được huy động vào sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia, trong đó lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia làm nòng cốt.

10. Thế trận an ninh nhân dân là việc tổ chức, bố trí lực lượng bảo vệ an ninh quốc gia và các nguồn lực cần thiết để chủ động bảo vệ an ninh quốc gia.

Điều 4. Chính sách an ninh quốc gia

1. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện chính sách hòa bình, hữu nghị, mở rộng giao lưu và hợp tác với tất cả các nước trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và cùng có lợi.

2. Nhà nước có chính sách xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, công nghệ, an ninh, quốc phòng, đối ngoại vững mạnh, giữ vững ổn định chính trị để bảo đảm an ninh quốc gia.

Điều 5. Nguyên tắc hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia

1. Tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

2. Đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý thống nhất của Nhà nước; huy động sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và toàn dân tộc, lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia làm nòng cốt.

3. Kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia với nhiệm vụ xây dựng, phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội; phối hợp có hiệu quả hoạt động an ninh, quốc phòng và đối ngoại.

4. Chủ động phòng ngừa, chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia.

Điều 6. Xây dựng lực lượng bảo vệ an ninh quốc gia

1. Nhà nước xây dựng lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại làm nòng cốt thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia.

2. Cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm xây dựng lực lượng công an xã, dân quân tự vệ, bảo vệ cơ quan, doanh nghiệp, bảo vệ dân phố, dân phòng tham gia hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia theo quy định của pháp luật.

Điều 7. Bảo đảm điều kiện cho hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia

Nhà nước bảo đảm ngân sách và cơ sở vật chất cho các hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia trong mọi tình huống, ưu tiên các địa bàn chiến lược, xung yếu, quan trọng về an ninh quốc gia; có chính sách huy động thành tựu khoa học và công nghệ phục vụ hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia.

Điều 8. Trách nhiệm, nghĩa vụ bảo vệ an ninh quốc gia

Bảo vệ an ninh quốc gia là sự nghiệp của toàn dân. Cơ quan, tổ chức, công dân có trách nhiệm, nghĩa vụ bảo vệ an ninh quốc gia theo quy định của pháp luật.

Điều 9. Chế độ, chính sách đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia

1. Nhà nước bảo vệ, giữ bí mật cho cán bộ, chiến sĩ thuộc lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia và cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia bảo vệ an ninh quốc gia.

2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia có thành tích thì được khen thưởng, bị tổn hại về danh dự thì được khôi phục, bị thiệt hại về tài sản thì được đền bù; người bị thương tích, tổn hại về sức khỏe, bị thiệt hại về tính mạng thì bản thân và gia đình được hưởng chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật.

Điều 10. Tuyên truyền, giáo dục bảo vệ an ninh quốc gia

1. Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo công tác tuyên truyền, giáo dục bảo vệ an ninh quốc gia.

2. Cơ quan thông tin, tuyên truyền có trách nhiệm tổ chức tuyên truyền, phổ biến pháp luật và nâng cao ý thức bảo vệ an ninh quốc gia cho toàn dân.

3. Cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tuyên truyền, giáo dục, vận động công dân Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài bảo vệ an ninh quốc gia.

4. Giáo dục bảo vệ an ninh quốc gia là một nội dung giáo dục quốc dân. Cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo có trách nhiệm đưa nội dung giáo dục bảo vệ an ninh quốc gia vào chương trình dạy học trong nhà trường và các cơ sở giáo dục khác phù hợp với ngành học, cấp học.

Điều 11. Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ an ninh quốc gia

Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện chính sách hợp tác quốc tế đa phương, song phương với các nước, các tổ chức quốc tế trong hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia phù hợp với pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế; thực hiện các điều ước quốc tế liên quan đến lĩnh vực bảo vệ an ninh quốc gia mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập.

Điều 12. Chính sách xử lý các hành vi xâm phạm an ninh quốc gia

1. Mọi hành vi xâm phạm an ninh quốc gia đều phải bị xử lý nghiêm minh, kịp thời theo đúng quy định của pháp luật. Người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối thì bị nghiêm trị.

2. Người bị ép buộc, lừa gạt, lôi kéo nhận làm việc cho tổ chức, cá nhân để hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia mà tự thú, thành khẩn khai báo thì được khoan hồng; nếu lập công thì được khen thưởng.

3. Người nước ngoài có hành vi xâm phạm an ninh quốc gia của Việt Nam ở ngoài lãnh thổ Việt Nam có thể bị xử lý theo pháp luật của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định.

Điều 13. Các hành vi bị nghiêm cấm

1. Tổ chức, hoạt động, câu kết, xúi giục, khống chế, kích động, mua chuộc, lừa gạt, lôi kéo người khác nhằm chống chính quyền nhân dân, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, chia cắt đất nước, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

2. Nhận nhiệm vụ của tổ chức, cá nhân để hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tham gia, giúp sức, cung cấp tài chính, vũ khí, phương tiện cho các tổ chức, cá nhân hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia.

3. Thu thập, tàng trữ, vận chuyển, mua bán, sử dụng, tiết lộ, cung cấp, tán phát trái phép tin tức, tài liệu, vật phẩm thuộc bí mật nhà nước.

4. Xâm phạm mục tiêu quan trọng về an ninh quốc gia.

5. Chống lại hoặc cản trở cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia.

6. Lợi dụng việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

7. Hành vi khác xâm phạm an ninh quốc gia được quy định tại Bộ luật hình sự và các văn bản pháp luật có liên quan.

 

CHƯƠNG II
BẢO VỆ AN NINH QUỐC GIA

Điều 14. Nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia

1. Bảo vệ chế độ chính trị và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

2. Bảo vệ an ninh về tư tưởng và văn hoá, khối đại đoàn kết toàn dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

3. Bảo vệ an ninh trong các lĩnh vực kinh tế, quốc phòng, đối ngoại và các lợi ích khác của quốc gia.

4. Bảo vệ bí mật nhà nước và các mục tiêu quan trọng về an ninh quốc gia.

5. Phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh làm thất bại và loại trừ các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, nguy cơ đe doạ an ninh quốc gia.

Điều 15. Các biện pháp cơ bản bảo vệ an ninh quốc gia

1. Các biện pháp cơ bản bảo vệ an ninh quốc gia bao gồm vận động quần chúng, pháp luật, ngoại giao, kinh tế, khoa học - kỹ thuật, nghiệp vụ, vũ trang.

2. Nội dung, điều kiện, thẩm quyền, trình tự, thủ tục và trách nhiệm áp dụng các biện pháp quy định tại khoản 1 Điều này do pháp luật quy định.

Điều 16. Xây dựng nền an ninh nhân dân và thế trận an ninh nhân dân

1. Vận động toàn dân tham gia phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc; giáo dục, động viên cán bộ, công chức, người lao động và mọi công dân tham gia xây dựng địa phương, cơ quan, tổ chức vững mạnh; xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

2. Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, chính sách, kế hoạch bảo vệ an ninh quốc gia gắn với xây dựng, củng cố hệ thống chính trị, phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, đối ngoại và kết hợp chặt chẽ với xây dựng nền quốc phòng toàn dân.

3. Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ an ninh quốc gia; xác định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong bảo vệ an ninh quốc gia.

4. Xây dựng lực lượng bảo vệ an ninh quốc gia vững mạnh; xây dựng các phương án và tổ chức, bố trí lực lượng, phương tiện cần thiết để chủ động bảo vệ an ninh quốc gia trong mọi tình huống.

Điều 17. Quyền và nghĩa vụ của công dân trong bảo vệ an ninh quốc gia

1. Tham gia lực lượng bảo vệ an ninh quốc gia và thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia theo quy định của pháp luật.

2. Tố cáo hành vi xâm phạm an ninh quốc gia, hành vi lợi dụng việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

3. Phát hiện, kiến nghị với chính quyền hoặc cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia khắc phục sơ hở, thiếu sót trong việc thực hiện pháp luật về bảo vệ an ninh quốc gia.

4. Phát hiện, cung cấp kịp thời thông tin, tài liệu liên quan đến hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia cho chính quyền hoặc cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia nơi gần nhất.

5. Thực hiện yêu cầu của cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia theo quy định của pháp luật.

6. Giúp đỡ, tạo điều kiện cho cơ quan và người có trách nhiệm tiến hành các biện pháp phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh với hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia.

Điều 18. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong bảo vệ an ninh quốc gia

1. Cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tổ chức thực hiện các nhiệm vụ quy định tại Điều 14 của Luật này và các quy định khác của pháp luật về bảo vệ an ninh quốc gia.

2. Thực hiện các biện pháp bảo vệ an ninh chính trị nội bộ, huy động sức mạnh của cơ quan, tổ chức để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia; đưa nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia vào chương trình, kế hoạch và các hoạt động chuyên môn của cơ quan, tổ chức.

3. Giáo dục, động viên mọi thành viên của cơ quan, tổ chức mình và nhân dân tham gia bảo vệ an ninh quốc gia.

4. Phát hiện, cung cấp kịp thời thông tin, tài liệu liên quan đến hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia cho cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia hoặc chính quyền nơi gần nhất.

5. Thực hiện yêu cầu của cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia theo quy định của pháp luật.

Điều 19. Trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trong bảo vệ an ninh quốc gia

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tuyên truyền, động viên nhân dân xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật về bảo vệ an ninh quốc gia; giám sát việc thực hiện pháp luật về bảo vệ an ninh quốc gia của tổ chức, cá nhân.

Điều 20. Bảo vệ an ninh quốc gia khi có tình trạng khẩn cấp, tình trạng chiến tranh

Khi có tình trạng khẩn cấp, tình trạng chiến tranh, việc bảo vệ an ninh quốc gia được thực hiện theo quy định của pháp luật về tình trạng khẩn cấp, tình trạng chiến tranh.

Hội đồng quốc phòng và an ninh có trách nhiệm động viên mọi lực lượng và khả năng của đất nước để bảo vệ Tổ quốc; thực hiện những nhiệm vụ và quyền hạn đặc biệt do Quốc hội giao.

Điều 21. Áp dụng một số biện pháp cần thiết khi có nguy cơ đe doạ an ninh quốc gia nhưng chưa đến mức ban bố tình trạng khẩn cấp

1. Khi có nguy cơ đe doạ an ninh quốc gia nhưng chưa đến mức ban bố tình trạng khẩn cấp, Thủ tướng Chính phủ được quyết định áp dụng một số biện pháp sau đây:

a) Tăng cường bảo vệ các mục tiêu quan trọng;

b) Tổ chức các trạm canh gác để hạn chế hoặc kiểm soát người, phương tiện hoạt động vào những giờ nhất định, tại những khu vực nhất định;

c) Thực hiện kiểm soát đặc biệt tại các cửa khẩu, các chuyến vận chuyển bằng đường hàng không, đường biển, đường thuỷ nội địa, đường sắt và đường bộ;

d) Hạn chế hoặc tạm ngừng việc vận chuyển, sử dụng chất cháy, chất nổ, chất độc, hoá chất độc hại, chất phóng xạ thuộc quyền sử dụng hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; kiểm soát chặt chẽ việc vận chuyển, sử dụng các loại vũ khí, công cụ hỗ trợ;

đ) Cấm, giải tán hoặc hạn chế các cuộc tụ tập đông người và những hoạt động của cá nhân, tổ chức xét thấy có hại cho an ninh quốc gia;

e) Hạn chế hoặc tạm ngừng hoạt động của nhà hát, rạp chiếu phim và nơi sinh hoạt công cộng khác;

g) Kiểm soát việc sử dụng các phương tiện thông tin liên lạc tại một địa phương hay khu vực nhất định;

h) Buộc người có hành vi gây nguy hại cho an ninh quốc gia rời khỏi các khu vực quan trọng về chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng hoặc không được rời khỏi nơi cư trú;

i) Huy động nhân lực, vật lực để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia.

2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân phải chấp hành các mệnh lệnh, quyết định của cơ quan và người thi hành các biện pháp quy định tại khoản 1 Điều này.

 

CHƯƠNG III
CƠ QUAN CHUYÊN TRÁCH BẢO VỆ AN NINH QUỐC GIA

Điều 22. Các cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia

1. Các cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia bao gồm:

a) Cơ quan chỉ đạo, chỉ huy và các đơn vị an ninh, tình báo, cảnh vệ Công an nhân dân;

b) Cơ quan chỉ đạo, chỉ huy và các đơn vị bảo vệ an ninh quân đội, tình báo Quân đội nhân dân;

c) Bộ đội biên phòng, cảnh sát biển là cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia ở khu vực biên giới trên đất liền và khu vực biên giới trên biển.

2. Tổ chức bộ máy, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể, phạm vi trách nhiệm hoạt động và quan hệ phối hợp của các cơ quan quy định tại khoản 1 Điều này do pháp luật quy định.

Điều 23. Nhiệm vụ của cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia

1. Cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia thực hiện nhiệm vụ quy định tại Điều 14 của Luật này.

2. Các nhiệm vụ cụ thể của cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia:

a) Tổ chức thu thập thông tin, phân tích, đánh giá, dự báo tình hình và đề xuất các chủ trương, giải pháp, phương án bảo vệ an ninh quốc gia;

b) Hướng dẫn, kiểm tra cơ quan, tổ chức và công dân thực hiện quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm bảo vệ an ninh quốc gia, bảo vệ bí mật nhà nước, xây dựng cơ quan, đơn vị an toàn, xây dựng phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc;

c) Tổ chức, chỉ đạo công tác phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh với các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia;

d) Nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ vào công tác bảo vệ an ninh quốc gia;

đ) Thực hiện hợp tác với các nước, các tổ chức quốc tế theo điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập trong phòng, chống hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia.

Điều 24. Quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia

1. Cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia được quyền:

a) Sử dụng các biện pháp nghiệp vụ theo quy định của pháp luật;

b) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin, tài liệu, đồ vật khi có căn cứ xác định liên quan đến hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia;

c) Yêu cầu cơ quan, tổ chức tài chính, kho bạc, ngân hàng kiểm tra, phong toả tài khoản, nguồn tài chính liên quan đến hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia;

d) Yêu cầu cơ quan, tổ chức bưu chính, viễn thông, hải quan bóc mở hoặc giao thư tín, điện tín, bưu phẩm, bưu kiện, hàng hoá để kiểm tra khi có căn cứ xác định trong đó có thông tin, tài liệu, chất nổ, vũ khí, vật phẩm khác có nguy hại cho an ninh quốc gia;

đ) Kiểm tra phương tiện giao thông, phương tiện thông tin, máy tính, mạng máy tính, đồ vật, tài liệu, hàng hoá, chỗ ở, nơi làm việc hoặc các cơ sở khác của cơ quan, tổ chức, cá nhân khi có căn cứ xác định liên quan đến hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia;

e) Trưng dụng theo quy định của pháp luật phương tiện thông tin, phương tiện giao thông, phương tiện khác và người đang sử dụng, điều khiển phương tiện đó trong trường hợp cấp bách để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia hoặc để ngăn chặn hậu quả thiệt hại cho xã hội đang xảy ra hoặc có nguy cơ xảy ra;

g) Tạm đình chỉ hoặc đình chỉ việc sử dụng phương tiện thông tin liên lạc hoặc các hoạt động khác trên lãnh thổ Việt Nam khi có căn cứ xác định các hoạt động này gây nguy hại cho an ninh quốc gia; yêu cầu ngừng các chuyến vận chuyển bằng các loại phương tiện giao thông của Việt Nam hoặc các phương tiện giao thông của nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam để bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm an toàn cho các phương tiện đó;

h) Áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ người cộng tác, người tố giác, người làm chứng, người bị hại trong các vụ án xâm phạm an ninh quốc gia.

2. Thủ trưởng cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia quyết định việc sử dụng các quyền hạn quy định tại khoản 1 Điều này theo thủ tục, thẩm quyền do Chính phủ quy định và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các quyết định của mình.

3. Cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia có trách nhiệm:

a) Tiến hành các hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của pháp luật;

b) Tuân thủ các quy định của pháp luật về bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; trong trường hợp vì yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia phải hạn chế các quyền và lợi ích đó thì phải được người có thẩm quyền quyết định;

c) Giữ bí mật về sự giúp đỡ của cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với công tác bảo vệ an ninh quốc gia.

Điều 25. Quyền hạn, trách nhiệm của cán bộ chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia

1. Cán bộ chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia trong khi thực hiện nhiệm vụ được quyền:

a) Thực hiện các quyền quy định tại khoản 1 Điều 24 của Luật này theo quyết định của người có thẩm quyền của cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia;

b) Giữ bí mật về nhân thân, lai lịch, nhiệm vụ và phương tiện thực hiện nhiệm vụ;

c) Miễn thủ tục hải quan đối với tài liệu, phương tiện nghiệp vụ mang theo khi nhập cảnh, xuất cảnh qua biên giới, cửa khẩu;

d) Xuất trình giấy chứng minh an ninh trong trường hợp cần thiết để yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân giúp đỡ.

2. Chính phủ quy định cụ thể trình tự, thủ tục, thẩm quyền thực hiện các quy định tại khoản 1 Điều này.

3. Cán bộ chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia có trách nhiệm chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật của Nhà nước, các quy tắc nghiệp vụ chuyên môn, kỷ luật của lực lượng vũ trang nhân dân và chịu trách nhiệm trước pháp luật về những việc làm của mình.

Điều 26. Trang bị và sử dụng vũ khí, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ, công cụ hỗ trợ của cán bộ, chiến sĩ cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia

Cán bộ, chiến sĩ cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia được trang bị và sử dụng vũ khí, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ, công cụ hỗ trợ để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia theo quy định của pháp luật.

Điều 27. Chế độ quản lý thông tin, tài liệu, đồ vật về bảo vệ an ninh quốc gia

1. Thông tin, tài liệu, đồ vật liên quan đến cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia hoặc do cơ quan này thu thập được thuộc bí mật nhà nước và được quản lý theo quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước.

2. Thông tin, tài liệu, đồ vật quy định tại khoản 1 Điều này có giá trị lịch sử, khoa học và công nghệ đã được công bố theo quy định của pháp luật thì có thể được chuyển giao cho cơ quan lưu trữ nhà nước quản lý.

Điều 28. Chế độ, chính sách đối với cán bộ, chiến sĩ cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia

Cán bộ, chiến sĩ cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia được tuyển chọn, bồi dưỡng, đào tạo, được phong, thăng hàm, cấp lực lượng vũ trang nhân dân và hưởng chế độ, chính sách ưu đãi theo quy định của pháp luật.

 

CHƯƠNG IV
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN NINH QUỐC GIA

Điều 29. Nội dung quản lý nhà nước về an ninh quốc gia

1. Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, chính sách, kế hoạch, phương án bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm điều kiện cần thiết cho hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia; ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ an ninh quốc gia.

2. Tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn hoạt động thu thập, phát hiện, điều tra, xử lý thông tin, tài liệu, hành vi liên quan đến hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia.

3. Chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện các biện pháp bảo vệ an ninh quốc gia.

4. Tổ chức bộ máy, trang bị phương tiện, đào tạo cán bộ làm công tác bảo vệ an ninh quốc gia; bồi dưỡng kiến thức bảo vệ an ninh quốc gia cho cán bộ chủ chốt của các cơ quan, tổ chức; xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình giáo dục về bảo vệ an ninh quốc gia; xây dựng và thực hiện chế độ, chính sách đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia bảo vệ an ninh quốc gia.

5. Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia.

6. Hợp tác quốc tế về bảo vệ an ninh quốc gia.

Điều 30. Thống nhất quản lý nhà nước về an ninh quốc gia

1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về bảo vệ an ninh quốc gia.

2. Bộ Công an chịu trách nhiệm trước Chính phủ chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao, các bộ, cơ quan ngang bộ thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ an ninh quốc gia.

Điều 31. Trách nhiệm của Bộ Quốc phòng trong quản lý nhà nước về an ninh quốc gia

Bộ Quốc phòng trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình chịu trách nhiệm trước Chính phủ phối hợp với Bộ Công an thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ an ninh quốc gia; chỉ đạo các lực lượng thuộc quyền phối hợp chặt chẽ với lực lượng Công an nhân dân và chính quyền địa phương để bảo vệ an ninh quốc gia theo quy định của pháp luật.

Quy chế phối hợp giữa Bộ Công an với Bộ Quốc phòng trong việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia do Thủ tướng Chính phủ quy định.

Điều 32. Trách nhiệm của Bộ Ngoại giao trong quản lý nhà nước về an ninh quốc gia

Bộ Ngoại giao trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia theo quy định tại Điều 14 của Luật này, các quy định khác của pháp luật có liên quan và phối hợp với Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, các cơ quan hữu quan khác để bảo vệ an ninh quốc gia.

Quy chế phối hợp giữa Bộ Công an với Bộ Ngoại giao trong việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia do Thủ tướng Chính phủ quy định.

Điều 33. Trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ trong quản lý nhà nước về an ninh quốc gia

Các bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia theo quy định tại Điều 14 của Luật này, các quy định khác của pháp luật có liên quan và phối hợp với các cơ quan hữu quan để bảo vệ an ninh quốc gia.

Điều 34. Trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân các cấp trong quản lý nhà nước về an ninh quốc gia

Uỷ ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ an ninh quốc gia tại địa phương; thực hiện các nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

 

CHƯƠNG V
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 35. Hiệu lực thi hành

Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2005.

Những quy định trước đây trái với Luật này đều bãi bỏ.

Điều 36. Hướng dẫn thi hành

Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật này.

Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 03 tháng 12 năm 2004.

 

 

679.0 Hướng dẫn cài đặt AD RMS server ( Active Directory Rights Management Services) có trong Windows Server 2012.

Nguồn: https://mdungblog.wordpress.com/2018/06/21/simple-guide-huong-dan-cai-dat-ad-rms-windows-server-2012-r2/   Hôm nay mình xin giới thiệ...