Wednesday, 18 April 2012

617. Một bữa no thời hiện đại

1 câu chuyện về  "1 bữa no thời hiện đại"

Theo GTH's FB: Một bữa ăn 1 số người bỏ chỉ khoảng 1 vài chục ngàn để ăn 1 bữa cơm, 1 số khác bỏ vài trăm ngàn để ăn 1 bữa ăn tiệm, số ít khác nữa có thể bỏ vài triệu, chục triệu để ăn ở 1 nhà hàng sang trọng…..chẳng ai quan tâm rằng 1 người có thể ăn 1 bữa ăn của mình bằng các xin đồ thừa của 1 bữa ăn vài ngàn đồng để sống qua ngày, cho qua cơn đói để dành đồng tiền lẻ kia cho con cái họ học hành, hay cho con cái họ có 1 bữa ăn đàng hoàng hơn họ. Sống trên đời, tùy mỗi số phận mà sinh ra hoàn cảnh và điều kiện khác nhau.



Nhưng 1 lần, hãy nhìn lại để thấy rằng đôi khi con vật nuôi của ta còn may mắn hơn cả những người đồng loại khác của chúng ta. Hãy sống biết khiêm tốn, và sử dụng cái mình có 1 cách ý nghĩa. Để tiêu xài 1 thứ gì đó rất dễ, nhưng để bỏ 1 vài đồng bạc để cho những người kém may mắn đôi khi lại rất khó…..Không phải bạn ích kỉ, nhưng chỉ là bạn ko thể ở hoàn cảnh của họ để biết đc rằng với họ cuộc sống này khó khăn đến thế nào, chỉ để sinh tồn. ….. 1 số người tiêu những đồng tiền mà họ ko thật sự làm ra, vào những thứ mà họ ko thật sự cần thiết, chỉ để gây ấn tượng với những người chẳng có ý nghĩa gì với họ hết. Có khi nào bạn tự hỏi và trả lời câu hỏi này chưa ?

Sunday, 15 April 2012

616. Nước mắt người thất nghiệp


SGTT.VN - Tình hình kinh tế khó khăn buộc hàng loạt doanh nghiệp phải thu hẹp, ngưng sản xuất hoặc đóng cửa. Điều này đã đẩy biết bao người lao động rơi vào bi kịch mất việc. Họ hoang mang vì hiện tại thất nghiệp, còn tương lai bấp bênh.

Một ngày đầu tháng 4.2012, như mọi ngày, chị Ngô Thị Hạnh vẫn đến công ty Trung Thu (huyện Hóc Môn, TP.HCM) làm việc trong tâm trạng mong thời gian qua để đến ngày được lãnh lương. Sáng ra đến cổng, bà chủ nhà trọ níu lại nhắc tiền nhà và còn cho biết “tháng sau sẽ tăng tiền nhà”. Đứa con nhỏ của chị đã mấy ngày bị ho, nhưng chưa dám đưa đi bác sĩ vì đồng lương ít ỏi của hai vợ chồng đã hết. Hy vọng đến mùng 10 lãnh lương mới có tiền đưa con đi khám bệnh.

Công nhân công ty Trung Thu vạ vật trước công ty để bảo vệ quyền lợi. Ảnh: Trung Trực

Thế nhưng đến chiều cùng ngày, khi vừa hết giờ làm, công ty thông báo do tình hình sản xuất khó khăn nên sẽ cho công nhân tạm nghỉ. Tiền lương tháng 3 sẽ được thanh toán vào ngày 16.4. Quá thất vọng, chị Hạnh thất thểu ra về trong tâm trạng rối bời.

Hiện tại mất việc, tương lai bấp bênh

Trong khi tạm nghỉ ở nhà và đang rà soát lại xem có thể đi mượn tiền ai để trang trải thì chiều ngày 9.4, có người báo chị Hạnh phải lên ngay công ty. Tới nơi chị mới hay công ty đang có ý định di dời máy móc đi nơi khác trong khi chưa trả tiền lương. Lo ngại công ty tẩu tán tài sản nên suốt đêm 9.4, chị Hạnh và gần trăm chị em khác nằm ngủ ngay trước cổng công ty để giữ tài sản và ngăn không cho ông Cher Chun Sik, quản lý sản xuất của công ty, ra ngoài.

Suốt đêm vạ vật trước công ty, câu chuyện của mấy chị em chỉ xoay quanh tình cảnh gia đình và tương lai sắp tới. Tiền nhà, tiền điện, tiền nước, tiền sữa, tiền mua thuốc cho con... đang đợi. Nhưng nguyên nhân làm cho họ xuống tinh thần hơn là không biết những ngày sắp tới sẽ ra sao. Chị Trần Thị Giang cho hay, hợp đồng lao động không có, quyền lợi về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cũng không. “Chính vì thế mà chúng tôi sẽ không được hưởng bảo hiểm thất nghiệp. Những ngày sắp tới không biết sẽ sống thế nào khi không có lương”, chị Giang lo lắng.

Sau mấy ngày vạ vật trước cổng công ty để đòi quyền lợi, đến ngày 14.4, công ty Trung Thu đã chi trả tiền lương tháng 3 và mấy ngày lương tháng 4 cho gần 100 công nhân. Nhưng niềm vui dường như chỉ bừng sáng trên những gương mặt mệt mỏi của công nhân một chút, rồi thay vào đó là sự âu lo cho tương lai u ám: công ty tạm ngưng sản xuất, chưa biết bao giờ mới hoạt động trở lại, trong khi xin việc mới không dễ vì đâu đâu cũng thấy tình trạng doanh nghiệp khó khăn phải tạm ngưng hoặc thu hẹp sản xuất. Nhiều chị em đã tính đến chuyện đi bán vé số để sống qua ngày, nhưng lại lo lắng bởi “hiện mười người bán mới có một kẻ mua thì biết bán cho ai”.

Cũng giống công nhân công ty Trung Thu, gần 40 công nhân công ty TNHH Quảng Dương đóng tại huyện Hóc Môn đang trong tình trạng hoang mang bởi mới đây, ngày 19.3, công ty thông báo tạm dừng hoạt động. Đến nay, công ty chưa chốt xong sổ bảo hiểm xã hội nên việc công nhân có nhận được trợ cấp thất nghiệp hay không vẫn chưa có lời đáp.

Cay đắng

Mỗi sáng tại trung tâm Giới thiệu việc làm TP.HCM có hàng ngàn người tới đăng ký thất nghiệp. Ánh mắt âu lo, tâm trạng rối bời... là nét chung của những người đến đây. Trò chuyện với họ mới thấy “mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh”.

Cuối tháng 12.2011, một ngân hàng tại TP.HCM bỗng dưng sa thải hơn 200 nhân viên bảo vệ. Ông Lê Hữu Chỉnh bàng hoàng vì thất nghiệp phủ lên gia đình mình. Ông làm bảo vệ cho ngân hàng này nhiều năm nay, chưa bao giờ nghĩ có lúc cuộc đời lại bi đát đến thế. Cả gia đình năm miệng ăn trông chờ vào đồng lương còm cõi của ông, giờ đang điêu đứng và “chưa tìm được lối ra”.

Như những anh em đồng nghiệp khác, ông Chỉnh được lãnh đạo ngân hàng hướng dẫn làm thủ tục nhận trợ cấp thất nghiệp trong thời gian chờ việc mới. “Tuổi tôi đã ngoài 50. Hiện nay mỗi tháng tôi phải trình diện ở một trung tâm đăng ký tại Thủ Đức một lần để họ biết mình chưa có việc làm mà nhận tiền tháng tiếp theo. Hơn 1 triệu đồng thất nghiệp/tháng không thể cứu vãn nổi tình trạng lay lắt đến mòn mỏi của vợ con tôi. Giá mà được nhận một lần để tôi còn có vốn làm việc khác sinh lợi”, ông Chỉnh tâm sự.

Cùng hoàn cảnh như ông Chỉnh, song anh V.T nhà ở quận Tân Phú tâm tư hơn. Lọt thỏm giữa đám đông chờ đến lượt mình ở văn phòng trung tâm giới thiệu việc làm quận Bình Thạnh, đã không ít lần anh muốn về nhà, “bỏ quách” số tiền hơn 10 triệu đồng. Nghĩ là vậy nhưng rồi mường tượng đến vợ con, anh cố nán chờ và lảng tránh cái nhìn của nhân viên làm thủ tục không một nụ cười.

Anh V.T cởi lòng: “Nghĩ đến mấy năm ngồi đại học với bao nhiêu đam mê, nhiệt huyết… giờ phải đi đăng ký nhận bảo hiểm thất nghiệp thật là cay đắng”.

Hà Dịu – Thanh Nhã

Doanh nghiệp phá sản, thất nghiệp gia tăng

Theo báo cáo tại cuộc họp Chính phủ thường kỳ tháng 3.2012, trong ba tháng đầu năm nay đã có hơn 2.200 doanh nghiệp đăng ký dừng hoạt động có thời hạn và hơn 9.700 doanh nghiệp đăng ký dừng thực hiện nghĩa vụ thuế.

Tại Hà Nội, trong quý 1/2012, số lao động đến đăng ký thất nghiệp là 4.667 người, tăng cao hơn nhiều so với cùng kỳ năm trước. Hai tuần đầu của tháng 4, số người đăng ký thất nghiệp là hơn 1.000 người và dự kiến trong tháng 4 sẽ có hơn 2.000 người đăng kỹ thất nghiệp. Ông Vũ Trung Chính, giám đốc trung tâm Giới thiệu việc làm Hà Nội cho biết, trong bốn tháng đầu năm nay số người hưởng thất nghiệp đã tăng gấp gần ba lần so với năm trước.

Trong khi đó, trung tâm Giới thiệu việc làm TP.HCM cho hay, chỉ trong quý 1/2012, thành phố đã có 36.000 người đăng ký hưởng trợ cấp thất nghiệp, tăng 57% so với cùng kỳ năm ngoái. Riêng tháng 3 vừa qua, lượng người đăng ký hưởng trợ cấp thất nghiệp đã lên tới 17.000 người.

Tuy nhiên, trong thực tế không phải lao động nào cũng đủ điều kiện để hưởng trợ cấp thất nghiệp. Ông Trần Văn Hoan, trưởng phòng thu bảo hiểm xã hội Hà Nội cho biết, với những doanh nghiệp đang nợ bảo hiểm xã hội thì cơ quan bảo hiểm không thể xác nhận cho người lao động, vì thế người lao động không đủ điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp.

Tây Giang



Biết làm gì bây giờ?

Gần 2.600 công nhân công ty cổ phần thuỷ sản Bình An (Bianfishco – Cần Thơ) đã được nhận 70% lương cơ bản của tháng 3 do họ đã phải tạm nghỉ trong thời gian này. Nếu như trước đây đa phần công nhân hồi hộp lo sẽ bị quịt lương, thì lúc này họ đã cầm tiền trong tay nhưng với một mối lo lớn hơn: không biết bao giờ nhà máy hoạt động trở lại?

Nhận được tiền lương tháng 3, nhưng Nguyễn Thị Nho, công nhân của Bianfishco không vui chút nào. Nho nói: “Không phải buồn vì số lương này ít hơn hàng tháng trước kia, mà buồn vì công ty không có việc làm mà công nhân cũng phải đi lãnh lương mới có tiền để sống trong những ngày chờ việc. Giống y tiền cứu trợ vậy!”

Mới đây, công ty cổ phần thuỷ sản Docifish (Đồng Tháp) cũng vừa kết thúc hợp đồng lao động với gần 700 công nhân. Thời hưng thịnh Docifish có khoảng 1.000 công nhân, sau đợt sàng lọc nhân sự này chỉ còn khoảng 100. Việc khiếu nại về quyền lợi người lao động khi thôi việc vẫn đang còn tiếp diễn. Có thâm niên gắn bó với công ty này hơn chín năm, nhưng Ngô Hồng Biên cũng là một trong những công nhân được giải quyết thôi việc trong đợt này. Chua chát hơn, vợ anh là công nhân cùng công ty, cũng đã phải kết thúc hợp đồng lao động theo yêu cầu lãnh đạo công ty, hiện tại phải ngồi nhà “ôm” hai đứa con nhỏ.

Hiện tại, theo Biên, một số anh em công nhân vừa nghỉ việc trở về quê nằm thở dài, số khác đang đi làm công nhật, phu bốc vác cho các nhà máy gạo, thức ăn chăn nuôi… để kiếm sống qua ngày với hy vọng sẽ có ngày nhà máy hoạt động trở lại.

Ngọc Tùng

615. DÂN TỘC TA SẼ CÒN TRẦM LUÂN!

DÂN TỘC TA SẼ CÒN TRẦM LUÂN! 

TS Tô Văn Trường

Nói những điều không biết, viết những điều không hiểu, sợ mất những điều không có.

Nhiều người dân quan tâm bài diễn văn của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng (như bài giảng) ở Trường Đảng Cao cấp Nico Lopez – một trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ rất quan trọng của Trung ương Đảng Cộng sản Cuba. Ngày hôm qua, trong bài viết bình luận: ”Bộ máy biến lãnh đạo thành cái máy” của đại tá, nhà báo Bùi Văn Bồng, tôi nhắc đến lời than của Anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi khi phải chứng kiến cảnh đất nước khó khăn mà lòng người không thuận:

“Nhân tài như lá mùa thu

 Hào kiệt như sao buổi sớm”

Lịch sử cũng cho thấy nhân tài, tuấn kiệt nước ta thời nào cũng có và mỗi khi đất nước gặp khó khăn, họ lại xuất hiện rất nhiều để trổ tài kinh bang tế thế! Anh hùng dân tộc, nhà văn hóa vĩ đại Nguyễn Trãi đã để lại lời răn và đặt ra yêu cầu lớn cho chúng ta trong công tác đào tạo và sử dụng con người đặc biệt là đội ngũ cán bộ được gọi là “công bộc, đầy tớ của nhân dân”.

Tổng bí thư là người đứng đầu, có thể hiểu là nhân tài trong Đảng nhưng phải nói thật lòng, đọc kỹ bài diễn văn để đời của ông ở Cuba, nhiều người dân phải thốt lên rằng: ”Dân tộc ta sẽ còn trầm luân!”  Bài diễn văn của Tổng bí thư có thể nói mượn danh chủ nghĩa Mác nhưng nội dung chính là tô vẽ cho chủ nghĩa xã hội và định hướng xã hội chủ nghĩa trái với tình hình thực tế, quy kết những khuyết tật của chủ nghĩa tư bản trong khi những khuyết tật ấy ở những nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa với chế độ toàn trị còn trầm trọng hơn.

Điều quan trọng hơn là cuộc đi thăm Cuba và bài nói ở trường Đảng nhằm mục đích gì? Có lợi gì cho đất nước? Giúp gì cho việc tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của thế giới đối với nước ta? Việc Brazil từ chối tiếp là một chuyện chưa từng xẩy ra trong lịch sử ngoại giao của nước ta, có ý kiến cho là một vết nhục! Vì sao có chuyện này?

Có ý kiến cho là do bài diễn văn nói vỗ mặt Mỹ và các nước phương Tây, khiến cho dư luận xã hội, nhất là các đảng đối lập với chính quyền Brazil không đồng tình, còn Chính phủ và đảng cầm quyền ở Brazil khó xử nên hủy bỏ chuyến đi thăm để tránh hệ lụy rắc rối.

Công bằng mà nói, ở khía cạnh nào đó cần chia sẻ và đồng cảm với Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng khi tôn thờ lý luận của Các Mác [Karl Heinrich Marx], vì thực tế chưa có học thuyết nào có tác dụng sâu, rộng như lý luận của Mác. Các quan điểm phớt lạnh, bác bỏ dẫn đến quyết liệt chống đối hay huyền thoại hóa, tôn sùng lý luận của Mác như tôn giáo của tín đồ hoặc lợi dụng kiếm chác tung hô cho mục đích riêng của mình thì sớm hay muộn cũng bị thực tế cuộc sống đào thải.  

Tôi làm công tác khoa học kỹ thuật, cho nên để hiểu về khoa học chính trị xã hội phải đọc rất nhiều các nguồn tư liệu, thảo luận, lĩnh hội ý kiến của một số vị trưởng thượng đối chiếu với thực tế để suy ngẫm. Theo tôi hiểu về tác phẩm, hiện nay loài người chưa có toàn tập của Mác. Giữa thập kỷ 80 của thế kỷ XX Liên Xô và Đông Đức dự kiến xuất bản toàn tập của Mác gồm 100 tập (MEGA mới) nhưng không thành vì Liên Xô sụp đổ.

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu khẳng định ở Cuba: ”Đi lên CNXH là khát vọng của nhân dân Việt Nam”. Không cần bắt bẻ ý kiến nói trên vì chưa có trưng cầu dân ý nhưng để tránh tù mù cho cả người nghe và người nói, cần phân tích tìm hiểu chủ nghĩa  xã hội là gì?

Khái niệm “chủ nghĩa xã hội” xuất hiện đầu tiên ở Tây Âu vào năm 1827 (không phải của Mác) để phê phán trường phái Xanh Ximông [Henri de Saint-Simon].

Đến năm 1832 chính Xanh Ximông dùng lại khái niệm CNXH nhưng bỏ đi sắc thái phê phán, và các biểu cảm xấu.

Từ năm 1837 từ “CNXH” phổ biến sang Đức trong phái Hêghen [Georg Wilhelm Friedrich Hegel] trẻ. Lúc bấy giờ Mác ở trong phái Hêghen trẻ, tiếp nhận từ “CNXH” để chỉ cái xã hội mới, sau khi chủ nghĩa tư bản bị loại bỏ, bị vượt qua và dùng từ “CNXH” trong các bản thảo của Mác năm 1844. Nhưng từ năm 1848 trở đi, từ Tuyên ngôn Đảng cộng sản thì Mác không dùng từ “CNXH” nữa mà dùng từ “chủ nghĩa cộng đồng”. Xã hội mới, chế độ mới, thay thế cho xã hội tư bản.

Các nhà nghiên cứu cũng vạch ra một chỗ mù mờ, không rõ ràng trong tác phẩm “Chống Duyrinh” của Anghen [Friedrich Engels] về khái niệm CNXH. Bernstein người bạn gần gũi với Mác ở Luân Đôn cũng chỉ gọi CNXH với cái nghĩa là cuộc vận động tự lập trong đó có phần thúc đẩy bởi cuộc đấu tranh có ý thức của giai cấp công nhân, nó không gắn liền hữu cơ với chủ nghĩa cộng đồng, là mục đích còn rất xa vời, trừu tượng!

Bản thân Lê Nin [Vladimir Ilyich Lenin] tiếp nhận từ “CNXH” nhưng trong việc thực hành cách mạng, Lê Nin vừa coi CNXH là bước thấp của chủ nghĩa cộng sản nhưng nhiều khi lại vừa coi đó là một hình thái kinh tế xã hội và một phương thức sản xuất riêng biệt, được xuyên tạc thành lý luận hóa.

Lê Nin quan niệm xây dựng CNXH phải đa dạng luôn thay đổi vì phải  mò mẫm, và vòng vèo dích dắc. Lê Nin vận dụng thành quả của cả loài người, kể cả của chủ nghĩa tư bản. Cuối đời Lê Nin có nhận định quan trọng là chúng ta phải thay đổi cơ bản quan niệm về CNXH nhưng lại không chỉ ra được quan niệm CNXH phải thay đổi là cái gì, thay đổi như thế nào, khi nào?  

Trong hình thái kinh tế xã hội và phương thức sản xuất Mác gọi cái xã hội sau chủ nghĩa tư bản là chủ nghĩa cộng đồng chứ không phải chủ nghĩa xã hội. Mác không bao giờ quan niệm chủ nghĩa xã hội là một phương thức sản xuất xã hội v.v.. 

Muốn hiểu đánh giá khách quan về Mác cần phải xem xét lý luận và thực tế cuộc sống thời Mác và thực tiễn hoạt động của con người. Thực tiễn là hoạt động của con người, còn thực tế bao hàm nghĩa rộng hơn về cuộc sống xã hội, cuộc sống có môi trường thiên nhiên và vũ trụ. Hayek cũng là một nhà lý luận và tư tưởng, năm 1974 ông được tôn sùng là chủ tướng của tư tưởng của trào lưu lý luận kinh tế, chính trị xã hội tân tự do, được tặng giải thưởng Nôben. Cuối đời Hayek bị nặng tai và điếc tai trái còn Mác bị điếc tai phải nên người ta nói nửa đùa, nửa thật là Mác chỉ nghe được những gì từ phía tả còn Hayek thì chỉ nghe được những gì từ phía hữu.

Bản chất của lý luận Mác là dở dang, không hoàn chỉnh bởi vì con người của Mác mà sự sửa chữa đến nhanh hơn sự hình thành, chưa kịp hoàn thành luận điểm đã chữa rồi. Mác sống được 65 năm, thấy rõ lỗ hổng của mình mới chỉ chiếm lĩnh cuộc sống (vài nước ở Tây Âu), chưa hiểu gì về Mỹ, phương Đông và tiến bộ của khoa học công nghệ, đặc biệt không đề cập đến sở hữu trí tuệ. 

Nói tóm lại:  

Bài diễn văn của Tổng bí thư chỉ có 2 điểm sáng: Thứ nhất là thể hiện tình đoàn kết gắn bó thủy chung giữa 2 dân tộc anh em Việt Nam-Cuba. Thứ hai là khi kể tên vài nước XHCN, may mà ông không đề cập đến người anh em Triều Tiên (“gia đình trị” điển hình)!. Còn nếu “mổ xẻ” tòan bộ nội dung thì đầy rẫy các điều bất cập, mù mờ!

Là người dân, dù bức xúc, nhưng tôi không thể viết tiếp về những điều mà bản thân mình cũng còn thấy “mù mờ”, huống chi là những người được tự gán cho cái mác là “nhân tài” lãnh đạo quốc gia:

“Nói những điều không biết

Viết những điều không hiểu

Sợ mất những điều không có”.

T.V.T.

4/2012

Nguồn: Người lót gạch

Thursday, 12 April 2012

614.Kinh tế thịt chó, định hướng đậu phụ chủ nghĩa

Thử lí giải học thuyết "kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa" mà tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đang rao giảng ở La Habanna.



Giọt mực, giọt đời


KINH TẾ THỊT CHÓ
ĐỊNH HƯỚNG ĐẬU PHỤ




Vừa qua, nghe mấy ông anh U80, U70 ví von đảng ta với giáo hội. Nào là tập trung dân chủ, giữ vững niềm tin, bên 10 điều, bên 19 điều cấm... Nhưng nhà em thấy ví đảng ta như giáo hội thì oan quá !

Điểm khác biệt là ở giáo hội người ta tin vào Chuá, cho dù thượng cổ, trung cổ, hiện đại hay gì gì đi nữa thì vẫn có một niềm tin.

Nếu có bỉ báng mà bảo là các bác chóp bu trong giáo hội cóc tin gì vào chúa, thì ít ra còn lại giáo dân vẫn nhiệt thành tin vào Chúa.

Còn  như tin vào hai đức Mác và Lê Nin thì chỉ có hai loại người : trí thức hay mắc bệnh tâm thần.

Trí thức thì Đảng ta rõ là không phải ! Vì trí thức vốn bất lực, đảng ta thì quyền lực ! Tâm thần thì lại càng không. Đảng ta khôn róc mấu !

Nếu muốn ví von thì đảng ta nhang nhác như anh thày tu phá giới. Đang tin tưởng vào chủ nghĩa ăn chay thì cái thực tế nó quật lại là ăn rau mãi thì mặt mũi xanh lè, trên bảo dưới không nghe, uống cả ống viagra cũng vẫn ỉu xìu.

Bởi thế mới đẻ ra cái chủ thuyết ăn thịt chó theo định hướng đậu phụ.

Từ đó, chó tây, chó ta mang thui sạch. Thượng tọa ăn đùi chó, chú tiểu xơi đít chó, nhân dân gậm xương chó.

Nói cho ngay là có là xương chó nó cũng còn ngon hơn rau !

Chó trắng hay chó đen đều hẩu xực !

Nếu thời cao trào thì vẫn có anh tin vào rau, ai nói ngược lại nó đập cho chết một cách kính cẩn, thành tín.

Còn nay thi ai cũng biết nhưng dại gì nói ra đểu có đứa nó lấy kinh ra mà đập cho dù nó cũng cóc có tin.

Kệ ! Nói sao cũng được, có nói là đậu phụ cũng chẳng có sao miễn nó là chó !

Cái khôn của đảng ta là ăn chia khá đều.

Mà nguồn thịt chó là từ đâu mà lắm thế ?

Nếu cứ theo lý thuyết của Đức Mác là do bóc lột giá trị thặng dư thì... hẻo quá !

Năng lực sản xuất của dân ta thấp lè tè... có thế thôi, chắt bóp thặng dư thì có mà... ăn cám !

Nguồn đó em nghĩ là giá trị thặng dư của thế hệ tương lai, tha hồ vay nợ, vay ODA... Thế hệ tương lai, chưa sinh ra, chưa biết phản đối. Bóc lột của nó, đảng ta quả là nhìn xa trông rộng !

Với nguồn thịt chó tưởng như vô tận đó thì lọt sàng xuống nia, quan trên ăn ngập họng thì vẫn rơi rớt xuống cho bầy chim có cái mà mổ. Nhà nhà... hưởng lợi.

Quan xơi lẩu dê, uống Chivas 21 ngập họng, bóp vú chân dài, rồi bo sộp.

Chân dài sau một ngày làm việc về  bo tiếp  cho xe ôm.

Xe ôm có cái mang về nuôi con... Cứ thế !

Nông dân lê la bán vé số vẫn có một mức sống “cao” hơn trước thời ở nông thôn.

Ngay các bác “cựu” cho dù “phản biện” nói cho ngay cũng vẫn thuộc tầng lớp hưởng lợi ít nhiều từ “cuộc chơi” đó.

Không hưởng lợi trực tiếp thì con cháu họ cũng... nở mày nở mặt, giá địa ốc tăng thì một cái nhà hóa giá mà nhà nước quẳng cho thời trước... cũng thành tài sản lớn.

Bởi thế chế độ ta vững, không đơn giản chỉ vì nhờ công an.

Nguồn thịt chó không phải là vô tận. Hy vọng là thế !

Nhà đất xuống giá, đại gia xù nợ, nhà băng đầy nợ xấu,  kinh tế đình đốn.

Biến tắc thông ? Hy vọng thế !

Đoan Hùng

Wednesday, 11 April 2012

Tuesday, 10 April 2012

613.VÀI ĐIỀU LUẬN BÀN VỀ SỰ BÌNH ĐẲNG GIỮA CÁC THÀNH PHẦN KINH TẾ THEO HIẾN PHÁP 1992

Ths: Nguyễn Việt Khoa*

   Sửa đổi Hiến pháp1992 đang là đề tài nóng được bàn luận khá sôi nổi. Nhiều diễn đàn được mở ra nhằm thu thập ý kiến từ các chuyên gia ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Các ý kiến đóng góp xung quanh vấn đề định hướng và nội dung cụ thể cho Hiến pháp sửa đổi. Về mặt luật học, Hiến pháp là đạo luật cơ bản có hiệu lực pháp lý cao nhất, có vai trò định hướng về mặt nguyên tắc cho luật. Về chính trị, Hiến pháp là khung định hình những nguyên tắc chính trị cơ bản, thiết lập hình thức chính thể, cấu trúc Nhà nước của một quốc gia. Khác với nhiều quốc gia trên thế giới, Hiến phápViệt Nam còn quy định thêm chương chế độ kinh tế gồm 15 điều từ điều 15 đến điều 29. Lý lẽ để chương chế độ kinh tế xuất hiện trong Hiến pháp 1992 là chính quyền cần có những tuyên bố và cam kết rõ ràng về các chính sách đối với đời sống kinh tế như cam kết bảo đảm nền kinh tế thị trường và vai trò điều tiết của Nhà nước, trong đó Nhà nước dẫn dắt tăng trưởng và có trách nhiệm phân bổ phúc lợi, bảo đảm những giá trị công bằng được coi là tôn chỉ của những người theo chủ nghĩa xã hội. Chương chế độ kinh tế, theo thiết kế hiện nay của Hiến pháp 1992, với tư cách là một cam kết và bảo đảm của chính quyền, là một nội dung quan trọng của Hiến pháp, cần được duy trì[1].

Lược lại chế độ kinh tế được quy định tại hiến pháp 1980, hiến pháp 1992 và hiến pháp được sửa đổi vào năm 2001 có thể thấy sự thay đổi rất lớn trong tư duy về kinh tế của các nhà lập hiến nước nhà. Hiến pháp 1980 quy định kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể làm căn bản đến hiến pháp1992 mở rộng ra 6 thành phần kinh tế gồm kinh tế nhà nước; kinh tế tập thể; kinh tế cá thể tiểu chủ; kinh tế tư bản tư nhân; kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài dưới nhiều hình thức[2]. Sáu thành phần kinh tế này đang chung tay vận hành toàn nền kinh tế đất nước.

Thời gian vừa qua nền kinh tế “hốt hoảng” khi Tập đoàn tàu thủy Vinashin thua lỗ đến hàng tỷ đô la, một số tập đoàn lớn của Nhà nước đầu tư ngoài ngành kém hiệu quả trong các lĩnh vực tài chính, bất động sản viễn thông mà điển hình là việc đầu tư kém hiệu quả của tập đoàn điện lực(EVN) vào EVN Telecom thua lỗ hơn 10.000tỷ đồng [3] buộc phải sáp nhập vào Viettel. Cơ quan Nhà nước bắt đầu có những biện pháp cứng rắn khi xem xét việc trách nhiệm lãnh đạo các tập đoàn và đã có những biện pháp kịp thời trong việc rút vốn vào những lĩnh vực đầu tư ngoài ngành của các tập đoàn và đã có những biện pháp thay đổi nhân sự cấp cao của các tập đoàn. Tuy nhiên, hiện nay việc đầu tư ngoài ngành của các tập đoàn được biến tướng bằng nhiều hình thức khác nhau. Có những tập đoàn hiện nay vần còn góp vốn và đầu tư ở vài chục công ty bất động sản mà điển hình là Tập đoàn Dầu khí Quốc gia. Trị giá tài sản đầu tư ngoài ngành khá lớn, chỉ tính 8 tháng đầu của năm 2011, các doanh nghiệp, tổng công ty nhà nước vẫn đầu tư ngoài ngành tới 22.590 tỷ đồng. Trong đó, có 6 tập đoàn, tổng công ty đầu tư trên mức 1.000 tỷ đồng/đơn vị[4]. Các ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước trước sự cạnh tranh mạnh mẽ của ngân hàng tư nhân phải rục rịch thực hiện các thương vụ sáp nhập để tăng cường sức cạnh tranh, tập đoàn điện lực, tập đoàn dầu khí quốc gia luôn kêu ca làm ăn thua lỗ và chờ đến bàn tay khổng lồ của nhà nước xòe ra cứu giúp. Trong khi đó mặc dù khối doanh nghiệp tư nhân phải tự thân vận động chống đỡ trước sức cạnh tranh từ thị trường thế giới vừa phải đối mặt với hàng loạt thủ tục hành chính từ phía cơ quan quản lý nhà nước nhưng cũng góp 48% vào GDP cả nước[5]. Từ những báo cáo thực tế có thể thấy thành phần kinh tế nhà nước mặc dù nhận được rất nhiều ưu đãi nhưng hoạt động kém hiệu quả trong khi đó thành phần kinh tế tư nhân đang trên đà phát triển mạnh, đóng góp lớn cho nền kinh tế lại chưa nhận được sự quan tâm đúng mức.

Từ thực tế trên buộc chúng ta phải nhìn nhận lại vị trí và vai trò của các thành phần kinh tế. Có ý kiến cho rằng nên từ bỏ tư duy cát cứ chia nền kinh tế thành 06 thành phần khác nhau, ghi nhận nền kinh tế thị trường có điều tiết nhằm phân bổ phúc lợi một cách hài hoà cho các giai tầng nhân dân. Đây là một ý tưởngrất hay và sẽ mang lại nhiều lợi ích nếu được áp dụng.Tuy nhiên, với điều kiện của Việt Nam hiện nay thì chưa thể áp dụng những ý tưởng trên. Thay vì phải thay đổi toàn bộ chỉ cần điều chỉnh lại vị trí và vai trò của các thành phần kinh tế theo hướng tăng cường sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế với nhau. Tôn trọng tự do cạnh tranh, tự do kinh doanh giữa các chủ thể trong nền kinh tế, loại bỏ sự ưu đãi dành cho khối doanh nghiệp nhà nước thì mới có thể làm gia tăng sức khỏe của nền kinh tế. Nên xóa bỏ tư duy sợ hãi khi khối doanh nghiệp tư nhân nắm giữ phần lớn thị trường sẽ dẫn đến tình trạng lũng đoạn nền kinh tế bởi lẽ nhà nước còn rất nhiều công cụ để kiểm soát trật tự của thị trường như các chính sách pháp luật, các chính sách kinh tế.

Mười ba tập đoàn kinh tế cùng với hơn chín mươi tổng công nhà nước đang hoạt động thật sự hiệu quả? Tâm lý “cha chung không ai khóc” và sự ưu đãi đặc biệt từ phía nhà nước đã và đang ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các công ty thuộc sở hữu nhà nước. Kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo và là đầu tàu của nền kinh tế được quy định tại điều 19 hiến pháp 1992. Theo tinh thần của hiến pháp muốn xây dựng thành phần kinh tế nhà nước thật mạnh để kéo các thành phần kinh tế phát triển nhưng thực tế đã chứng minh điều ngược lại. Việc tiếp tục duy trì tình trạng dành ưu đãi cho thành phần kinh tế nhà nước và không coi trọng đúng mức vị trí của các thành phần kinh tế khác sẽ mang lại nhiều hệ lụy cho nền kinh tế. Thứ nhất, làm mất đi động lực và kiềm hãm sự phát triển của các thành phần kinh tế trong xã hội, tiềm năng của cả xã hội sẽ bị lãng phí. Thứ hai, dựa vào lợi thế của mình thành phần kinh tế nhà nước có thể gây áp lực lên hoạt động kinh doanh của các thành phần kinh tế khác. Ngoài ra, rủi ro còn thường trực đối với các tập đoàn kinh tế do được hưởng nhiều ưu đãi như không bắt buộc phải có đủ tài sản đảm bảo cho khoản vay, thủ tục vay vốn đơn giản, mỗi khi “cần” là vay dễ dẫn đến nguy cơ đổ vỡ dây chuyền khi mất khả năng thanh toán[6]. Thứ ba,vì cách tổ chức quản lý như hiện tại, nên tập đoàn và các công ty nhà nước không còn tính độc lập mà phụ thuộc hoàn toàn vào Nhà nước, nghĩa là Nhà nước vẫn phải chịu trách nhiệm vô hạn, tương tự như trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp tư nhân trong nền kinh tế thị trường. Do chịu trách nhiệm vô hạn, nên tập đoàn càng yếu kém, Nhà nước càng phải đầu tư, không chỉ bằng ngân sách, mà bằng cả vay nợ, bảo lãnh tín dụng quốc gia; càng phải tập trung sức lực của cả bộ máy hành chính nghĩa là chính phủ ngày càng dấn sâu vào kinh doanh vốn gắn liền với rủi roảnh hưởng đến chức năng quản lý nhà nước của chính phủ.

Việc quy định các thành phần kinh tế bình đẳng với nhau sẽ tạo ra nhiều kết quả tốt. Thứ nhất, các thành phần kinh tế dễ dàng phát huy thế mạnh của mình tạo ra nhiều giá trị vật chất, nhiều của cải cho xã hội hơn. Khi khối doanh nghiệp tư nhân phát triển sẽ tạo ra nhiều việc làm,góp phần giải quyết vấn đề thất nghiệp, đóng góp nhiều hơn cho ngân sách nhà nước. Thứ hai, ngân sách giảm bớt gánh nặng phải trả nợ cho các công ty nhà nước làm ăn thua lỗ kém hiệu quả, đem số tiền ấy đầu tư vào các khoản phúc lợi xã hội sẽ có ý nghĩa hơn. Thứ ba, trước áp lực của cạnh tranh các tập đoàn, các tổng công ty Nhà nước sẽ buộc phải thay đổi về mặt cơ cấu tổ chức, nhân sự, quản lý, chiến lược để hoạt động có hiệu quả hơn. Từ đó khối doanh nghiệp quốc doanh sẽ kết hợp với khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh tạo nên sức mạnh tổng hợp thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.

Sửa đổi hiến pháp là một việc hệ trọng vì vậy việc sửa đổi, bổ sung cần có sự hoạch định cụ thể rõ ràng, dự liệu được các khả năng có thể xảy ra trong tương lai. Một đất nước vững mạnh phải có một nền kinh tế thật sự mạnh. Trong bối cảnh tự do hóa thương mại đang diễn ra với tốc độ nhanh, nền kinh tế nước ta cần có những bước cải cách mang tính đột phá để bắt kịp xu thế của nền kinh tế thế giới. Việc sửa đổi chế độ kinh tế theo hướng bình đẳng giữa các thành phần kinh tế với nhau sẽ góp phần lành mạnh hóa nền kinh tế, phát huy được tất cả tiềm năng của toàn xã hội, góp phần vào mục tiêu chung của đất nước.

Nguyễn Việt Khoa

 

*Nghiên cứu sinh, Giám đốc Trung tâm tư vấn và bồi dưỡng pháp luật kinh doanh, Khoa Luật Kinh tế Trường Đại học Kinh tế TP.HCM

[1]Theo PGS.TS PHẠM DUY NGHĨA, Chế độ kinh tế trong Hiến pháp 1992 - phát hiện một số bất cập và kiến nghị hướng sửa đổi. Nguồn: nclp.org.vn

[2]Điều 16 hiến pháp 1992.

[3]Xem: http://hcm.24h.com.vn/tin-tuc-trong-ngay/evn-thua-lo-hon-10000-ty-dong-tong-hop-tin-hot-19-11-c46a417766.html.

[4]Báo công lý. Đầu tư trong đầu tư ngoài.Thứ Sáu, 30/09/2011 09:32.

Xem: VnExpress-EVN nợ chồng chất vẫn đầu tư ngoài ngành, Thứ tư, 14/9/2011, 08:17 GMT+7

[5]Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và đầu tư trình Chính phủ về tình hình triển khai kế hoạch phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2006 – 2010.

[6]Xem: http://tamnhin.net/Tap-doan/18511/Tap-doan-con-de-va-he-luy.html

612.Bài viết tham luận hội thảo "Đánh giá thực tiễn thi hành chế độ kinh tế trong Hiến pháp 1992

Bài viết tham luận hội thảo "Đánh giá thực tiễn thi hành chế độ kinh tế trong Hiến pháp 1992"
PGS.TS Phạm Duy Nghĩa

PGS.TS Phạm Duy Nghĩa

 

NHU CẦU SỬA ĐỔI QUY ĐỊNH CỦA HP 1992 VỀ SỞ HỮU TOÀN DÂN

 

 

Phạm Duy Nghĩa [*]

 

I. Tổng quan về sở hữu toàn dân

 

  1. Hiếm có quốc gia nào trên thế giới này mất công phân loại ra vô số loại hình sở hữu và ghi nhận chúng trong một bản Hiến pháp như ở nước ta. Về cơ bản, tư hữu là một quyền thiêng liêng, một nhân quyền cơ bản, là người ai cũng mặc nhiên được hưởng, nhà nước cam kết bảo vệ nhân quyền, tức là trước hết bảo vệ là các quyền tư hữu về tư liệu sản xuất. Vì lẽ đó, các quyền này thường không xuất hiện trong một bản hiến văn nếu được hiểu là một khế ước cương tỏa quyền lực của chính quyền. Sở hữu tư của cá nhân, của một công ty hay của một quốc gia đều có tính loại trừ có thể so sánh được với nhau. Sự phân biệt sở hữu theo loại hình chủ thể là một việc làm ít ý nghĩa về pháp lý và ít mang tính khái quát. Có thể tuân theo tư duy như vậy, xét về chế độ sở hữu, bản HP 1946 duy nhất chỉ có một Điều 12 quy định “quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm”.
  2. Khái niệm sở hữu toàn dân đã xuất hiện như một sản phẩm của ý thức hệ, của triết học và kinh tế chính trị học hơn là từ truyền thống cổ điển của dân luật. Xóa bỏ tư hữu, những người ta cho rằng cần tạo ra một nền tảng sở hữu xã hội mới về các tư liệu sản xuất, đối lập với quan niệm về sở hữu của chủ nghĩa tư bản, một hệ thống quan hệ sở hữu XHCN được xây dựng, nền tảng của nó là sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu cá nhân về các vật dụng có tính chất tiêu dùng.
  3. Khái niệm sở hữu toàn dân có vẻ đã được du nạp chính thức vào Việt nam từ Hiến pháp 1959, tuy nhiên sự ghi nhận chưa thật chắc chắn. Điều 11 HP 1959 ghi nhận: “Ở nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trong thời kỳ quá độ, các hình thức sở hữu chủ yếu về tư liệu sản xuất hiện nay là: hình thức sở hữu của nhà nước tức là của toàn dân, hình thức sở hữu của hợp tác xã tức là hình thức sở hữu tập thể của nhân dân lao động, hình thức sở hữu của người lao động riêng lẻ và hình thức sở hữu của nhà tư sản dân tộc”. Điều này chỉ liệt kê, không định nghĩa các loại sở hữu, trong đó khái niệm sở hữu của nhà nước được định nghĩa tức là của toàn dân. Điều 12 của bản Hiến pháp 1959 bắt đầu tuyên bố kinh tế quốc doanh, hầm mỏ, sông ngòi, rừng cây, đất hoang, tài nguyên khác mà pháp luật quy định của nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân.
  4. Cho đến HP 1980, dường như tư tưởng XHCN về cách mạng về quan hệ sản xuất đã được thể hiện thành đường lối công khai trong Hiến pháp, phạm vi của sở hữu toàn dân đã được nới rộng ra tất cả các nguồn tài nguyên kinh tế quan trọng của quốc gia, xem §19 HP 1980.
  5. Tư tưởng này được cải biên, song chưa được thay đổi đáng kể trong hai lần sửa đổi Hiến pháp tiếp theo vào năm 1992 và 2001. Hiến pháp 1992 tại Điều 15 quy định ba chế độ sở hữu là sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng. Chỉ có điều bản Hiến pháp không thể làm rõ ai là người chủ đích thực trên hàng triệu mảnh đất hoặc là chủ đích thực của hàng ngàn doanh nghiệp nhà nước.  Tuyên bố sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng cũng tạo ra nhiều sự giải thích mập mờ, biện minh cho can thiệp của nhà nước vào thị trường, nhiều hay ít đã tỏ rõ sự thiếu tin tưởng của nhà nước Việt Nam đối với sở hữu tư nhân. Tư tưởng này được thể hiện tiếp trong pháp luật dân sự, đất đai, và pháp luật về DNNN.
  6. Từ góc độ luật dân sự cũng có tình trạng tương tự.  Bộ luật Dân sự năm 1995 không quy định chế độ sở hữu mà nêu ra bảy hình thức sở hữu, sau đó Bộ luật Dân sự sửa đổi năm 2005 (“BLDS 2005”) tìm cách phân định giữa “chế độ sở hữu” và “hình thức sở hữu”. Cụ thể, Điều 172 quy định “Trên cơ sở chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, các hình thức sở hữu bao gồm sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, sở hữu chung, sở hữu của tổ chức chính trị - xã hội …” (liệt kê tám hình thức sở hữu). Cố gắng kể trên cũng chưa thể giải quyết nổi ai là người chủ đích thực của khối tài sản toàn dân. Sự bất lực đó nằm ở chỗ, sở hữu toàn dân là một quan niệm không thể rõ nghĩa, đã được ấn định bởi những định kiến ý thức hệ, từ một quan niệm thuần túy chính trị phải diễn dịch thành một quan niệm pháp lý khả dụng đôi khi là một nhiệm vụ khó khả thi.
  7. Tự thân khái niệm “sở hữu toàn dân” chứa nhiều mâu thuẫn và lý do dẫn tới hiểu lầm, một khái niệm không hoàn toàn xác định và dễ bị lợi dụng. Sở hữu của toàn dân đương nhiên phải hiểu đó là quyền sở hữu chung của ít nhất tất cả mọi công dân đang sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam. Điều này, về mặt pháp lý, đòi hỏi phải tạo ra một cơ chế để tất cả mọi người dân (đồng sở hữu chủ) đều có quyền tham gia “định đoạt” và “hưởng lợi” từ quyền sở hữu này. Vậy, phải chăng Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến các tài sản thuộc sở hữu toàn dân? Và trong thời gian qua, khi cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước thì đáng lẽ các cổ phần đó phải được phân chia đều cho tất cả mọi người dân chứ không chỉ “bán một phần cho cán bộ, công nhân viên”.
  8. Đã là sở hữu của toàn dân thì khó có thể đồng nhất với “sở hữu nhà nước”. Bởi lẽ phải xác định rõ: (i) Ai là nhà nước? (khái niệm “nhà nước” là một hệ thống các cơ quan và cấu trúc khác nhau chứ không phải một cơ quan tập trung hay thống nhất), (ii) “nhà nước trung ương” hay “nhà nước địa phương?, và (iii) Ai là đại diện cho chủ thể nhà nước? (phân biệt giữa cơ quan chính quyền, cơ quan lập pháp và cơ quan tư pháp). Một khi không làm rõ các vấn đề như vậy thì sẽ dẫn tới một hệ quả là sự hành động “nhân danh nhà nước” bao gồm cả sự chồng chéo lẫn lạm dụng về thẩm quyền. 

 

II. Thực tế biến động của quan hệ đất đai trong khuôn khổ sở hữu toàn dân

 

  1. Đất đai thuộc sở hữu toàn dân:Dù không biết tới một cách rạch ròi các quan niệm sở hữu và quyền định đoạt mang tính loại trừ, song trong Quốc triều hình luật, có thể nhận thấy hạt nhân của ba loại sở hữu về đất đai, bao gồm: ruộng đất công (sở hữu nhà nước), ruộng đất của làng (sở hữu cộng đồng làng xã) và ruộng đất tư (sở hữu tư nhân của người dân). Khi du nhập dân luật Pháp, Dân luật 1931 quy định sở hữu đất đai thuộc cá nhân hoặc pháp nhân, trong đó nhà nước, làng xã là những pháp nhân công, §284 Dân luật 1931. Người ta cho rằng phải có một chủ thể pháp luật, có đủ năng lực pháp luật và hành vi mới có thể làm chủ nhân của một quyền tài sản. Chủ thể ấy được khái quát gọi là người, tức là một cá nhân hoặc pháp nhân. HP 1946 và 1959 đều không tuyên bố quốc hữu hóa đất đai, duy trì chế độ đa sở hữu về đất đai. Từ năm 1980 cho đến nay, đất đai được tuyên bố thuộc sở hữu toàn dân, §19 HP 1980, §17 HP 1992. Vì toàn dân không phải là một chủ thể pháp luật, trên thực tế cần có một cơ chế hành xử đại diện cho 86 triệu người dân. Với mong muốn làm cho sở hữu toàn dân rõ chủ hơn, BLDS 2005 quy định đất đai thuộc hình thức sở hữu nhà nước, do nhà nước thực hiện các quyền sở hữu, §§200, 201 BLDS 2005. Bằng quy định này, nhà nước trở thành người đại diện cho toàn dân, từ chế độ sở hữu toàn dân được diễn giải thành hình thức sở hữu nhà nước, đất đai từ sở hữu của toàn dân trở thành sở hữu của nhà nước. Sự diễn giải này của BLDS 2005 khá mập mờ, hai khái niệm chế độ sở hữu và hình thức sở hữu khó có thể phân biệt rạch ròi, vì thế đã góp phần trộn lẫn sở hữu của toàn dân với sở hữu của nhà nước.
  2. Quyền định đoạt của nhà nước với đất đai:Theo §5.2 Luật đất đai 2003, với tư cách đại diện cho sở hữu toàn dân, nhà nước giữ 6 quyền định đoạt quan trọng dưới đây đối với đất đai:
  3. thứ nhất, ấn định mục đích sử dụng cho các ô, thửa đất thông qua quy hoạch;
  4. thứ hai, quyết định chuyển đổi mục đích sử dụng đất;
  5. thứ ba, quyết định giao đất, cho thuê đất;
  6. thứ tư, thu hồi đất đã giao hoặc cho thuê;
  7. thứ năm,ấn định các hạn chế về thời gian và hạn mức đối với việc giao đất hoặc cho thuê đất;
  8. thứ sáu, định giá đất.
  9. Thực thi quyền định đoạt của nhà nước: Các quyền định đoạt kể trên được thực hiện bởi nhiều cơ quan nhà nước khác nhau, rải từ Quốc hội cho tới UBND cấp huyện. Trong các quyền định đoạt đó, quan trọng bậc nhất đối với giá trị của đất đai là ấn định mục đích sử dụng thông qua quy hoạch, quyết định chuyển đổi mục đích sử dụng, ví dụ từ đất nông nghiệp sang đất ở hoặc đất kinh doanh, quyết định thu hồi đất và ấn định giá đất. Quyền quyết định quy hoạch phân bổ cho Quốc hội, Chính phủ, UBND cấp tỉnh và UBND cấp huyện tùy theo loại quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất §26 LĐĐ 2003. Quyền chuyển đổi mục đích sử dụng đất và thu hồi đất được phân cấp xuống UBND cấp tỉnh và huyện tùy theo đối tượng người sử dụng đất bị thu hồi, §§37, 44 LĐĐ 2003. Lý do để nhà nước thu hồi đất cũng được định nghĩa rất rộng rãi, tiện cho cơ quan nhà nước thu hồi đất, bao gồm các mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích cộng đồng, phát triển kinh tế, §38.1 LĐĐ 2003. Khi nhà nước có quyết định thu hồi đất, bất kỳ người sử dụng đất nào cũng có nghĩa vụ giao lại đất cho nhà nước, §107.7 LĐĐ 2003. Như vậy, nhà nước giữ quyền định đoạt đáng kể đối với đất đai ở VN.
  10. Quyền sử dụng đất:Tuy không có chủ quyền tuyệt đối về ô thửa đất đang sử dụng, tức là không có quyền sở hữu tư nhân tuyệt đối, không thể cản trở nhà nước thu hồi đất vì những lý do được cho là hợp pháp, song chủ nhân của hàng trăm triệu ô thửa đất ở VN ngày càng được hưởng nhiều quyền lợi, nới rộng dần qua bốn lần sửa đổi Luật đất đai. Quyền sử dụng đất (dưới đây viết tắt là QSDĐ), tuy chưa đạt tới sở hữu tư nhân tuyệt đối, song đã trở thành một quyền tài sản quan trọng. Theo §§105, 106 LĐĐ 2003, ngoại trừ người thuê đất trả tiền thuê hàng năm (§111 LĐĐ 2003), chủ nhân của QSDĐ có thể có hàng chục quyền tài sản có tính chất tư.
  11. Quyền sử dụng đất của nông hộ:Các quyền tài sản trong bảng nêu trên phụ thuộc vào loại đất và chủ thể sử dụng đất. Khác với đất ở, đất kinh doanh của các hộ được nhà nước công nhận là đất sử dụng ổn định lâu dài theo §66 LĐĐ 2003, đất nông nghiệp của các nông hộ được coi là đất sử dụng có thời hạn 20 năm hoặc 50 năm tùy theo loại cây trồng hàng năm hoặc cây lâu năm hoặc đất rừng, §67 LĐĐ 2003. Thêm nữa, đất nông nghiệp còn bị giới hạn bởi hạn mức giao đất (hạn điền), §70 LĐĐ 2003. Vì các lý do đó, so với đất ở nhất là ở khu vực đô thị, quyền tài sản của các nông hộ đối với đất nông nghiệp được bảo hộ kém hơn, QSDĐ của nông dân dễ bị thu hồi với mức giá do nhà nước ấn định. Nông dân đã gánh chịu phần đáng kể chi phí của quá trình công nghiệp hóa.
  12. Quyền sử dụng đất của doanh nghiệp:LĐĐ 2003 có những quy định mang tính phân biệt đối xử giữa tổ chức được giao đất, nhà đầu tư nước ngoài thuê đất và doanh nghiệp Việt Nam thuê đất, trong đó không hiếm khi doanh nghiệp trong nước được đối xử kém bình đẳng hơn so với doanh nghiệp nước ngoài, đối chiếu §111 và 120.2.c LĐĐ 2003. Về nguyên tắc, nếu DN thuê đất trả thiền thuê đất hàng năm, quyền của DN đối với QSDĐ khá hạn chế, không bao gồm các quyền chuyển nhượng, thế chấp, bảo lãnh hay góp vốn bằng QSDĐ đã được thuê. DN thuê đất trả thiền thuê đất hàng năm chỉ có những quyền tài sản đối với công trình xây dựng, nhà xưởng hoặc các tài sản tư hữu khác gắn liền với đất đã được thuê. Ngược lại, theo LĐĐ 2003, các DN được giao đất theo §§109, 110 và tổ chức, cá nhân nước ngoài thuê đất tại VN §120.2.c lại có những quyền tài sản rộng rãi hơn đối với QSDĐ. Đối với các đơn vị sự nghiệp có thu, các trường đại học và cơ sở y tế, đôi khi nhà nước vẫn duy trì chế độ giao đất có hoặc không thu tiền sử dụng đất. Chế độ pháp lý phiền nhiễu này phản ánh một quá khứ phân phối đất đai từ nền kinh tế kế hoạch, cần có thời gian để chuyển đổi sang chế độ thuê đất áp dụng chung cho mọi loại hình DN.
  13. Quyền tài sản đa tầng: Sau 4 lần sửa đổi LĐĐ, có thể nhận thấy nhà nước tuy vẫn giữ một số quyền định đoạt, song các quyền tài sản về đất đã được phi tập trung hóa tới các nông hộ, người dân và DN. Từ sở hữu toàn dân, một trật tự quyền tài sản đa tầng đã xuất hiện. Bắt đầu với một quyết định hành chính phân phối đất đai, ngay lập tức hình thành quyền tài sản mang tính loại trừ của một cá nhân hay DN. Quyền tài sản đang hình thành ấy- sau khi ra đời sẽ được giao dịch trong những thị trường trung gian, rất sớm trước khi bằng khoán được cấp cho người có QSDĐ ở thị trường công khai, xem thêm Trương Thiên Thu (2010).
  14. Khai thác và hưởng dụng vì lợi tư:Điều mô tả ở trên không chỉ đúng với thị trường nhà đất, mà cũng đúng với quyền khai thác và hưởng dụng rừng núi, bờ biển và các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác. Dưới vỏ bọc sở hữu toàn dân, có thể nhận thấy nhiều tầng nấc quyền tài sản mang tính loại trừ của cá nhân và DN đã hình thành từ các quyết định phân bổ tài nguyên của cơ quan nhà nước. Khi các quyền tài sản có dấu hiệu tư hữu không rõ ràng ấy xuất hiện, ngay lập tức xuất hiện nguy cơ của công được khai thác đôi khi vì lợi tư. Người có lợi tư liên kết thành bè nhóm, khi mạnh dần lên các nhóm lợi ích này sẽ ảnh hưởng tới chính sách của chính quyền từ địa phương tới trung ương. Những quan sát mang tính dự báo này cho thấy phải định nghĩa lại vai trò của nhà nước đối với các nguồn tài nguyên quốc gia, tái định nghĩa sở hữu toàn dân, và nếu cần có thể thay quan niệm ấy bằng những chế độ pháp lý rành mạch, xác định rõ chủ nhân hơn đối với tài sản.
  15. Không có sở hữu về đất đai nói chung, chỉ có vật quyền đối với từng thửa đất: Nếu Hiến pháp ghi nhận rằng “đất đai thuộc sở hữu toàn dân” thì chỉ có thể coi đó là tuyên ngôn chính trị, hơn là một quan niệm pháp lý khả dụng. Bởi lẽ, toàn thể đất đai cũng như lãnh thổ của một quốc gia nói chung, tương tự như không khí và ánh sáng là các yếu tố thuộc về môi trường sống tự nhiên, nên không thể là “tài sản” thuộc phạm trù sở hữu của luật dân sự được. Thay vào đó, từng ô, thửa đất cụ thể mới là đối tượng của sở hữu theo pháp luật. Trên thực tế, tuyên bố về toàn bộ lãnh thổ là một tuyên bố chính trị, các vật quyền trên từng ô thửa đất mới là các quyền có thể tham gia các giao lưu dân sự và thương mại.
  16. Hạn chế vật quyền của chủ đất một cách bất hợp lý: Khi tuyên bố đất đai thuộc sở hữu toàn dân trên cơ sở Luật Đất đai năm 1980, Nhà nước đã tước đi về mặt pháp lý toàn bộ sở hữu tư nhân về đất đai ở Việt Nam. Tuy nhiên, bởi “đất đai” và “thửa đất” (hay “mảnh đất”) thuộc hai phạm trù khác nhau, do đó, trên thực tế, quá trình quốc hữu hoá các “mảnh đất” và “thửa đất” cụ thể đã không xảy ra sau đó. Nói cách khác, Nhà nước vẫn phải thừa nhận một thực tế khách quan là ai ở đâu (trên mảnh đất nào) thì vẫn ở đó. Về mặt pháp lý, Nhà nước chỉ can thiệp vào hai khía cạnh của quyền sở hữu đất đai, đó là kiểm soát quyền sử dụng và quyền định đoạt. Người dân (chủ sử dụng đất) muốn thay đổi mục đích sử dụng hay chuyển đổi, chuyển nhượng chủ quyền đối với các mảnh đất, thửa đất của mình thì phải xin phép và được sự đồng ý của Nhà nước. Như vậy, động cơ của hành động “quốc hữu hoá” nói trên không phải nằm ở vấn đề quyền sở hữu mà ở chính sách của Nhà nước nhằm kế hoạch hoá một cách triệt để các quan hệ liên quan đến sở hữu đất đất đai.
  17. Tạo cơ hội cho tư nhân hóa ngầm: khi triển khai xây dựng nền kinh tế thị trường, chủ trương kế họach hoá của Nhà nước đối với nền kinh tế và đời sống xã hội không còn nữa, dẫn đến chế định sở hữu toàn dân đối với đất đai cũng mất hết ý nghĩa. Không những thế, việc tiếp tục duy trì chế định sở hữu này còn trực tiếp và/hoặc gián tiếp cản trở sự phát triển của nền kinh tế và quá trình làm giàu của người dân thông qua việc hạn chế người dân biến các mảnh đất, thửa đất của mình thành tài sản và/hoặc vốn đầu tư. Mặt khác, chế định sở hữu toàn dân đối với đất đai còn đã và đang gây ra các “lạm dụng” một cách công khai hay bí mật của tất cả các chủ thể liên quan đến sở hữu, sử dụng và kinh doanh đất đai, bao gồm cả chính các cơ quan chính quyền, qua đó, thay vì chuyển đất đai thành tài sản và vốn đầu tư để phát triển kinh tế và đời sống thì biến nó thành phương tiện đầu cơ để trục lợi bằng tiền bạc ngắn hạn.
  18. Quyền tài sản tư nhân biến khái niệm sở hữu toàn dân về đất đai trở nên trống rỗng: Thông qua phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường, một quá trình tư nhân hoá về sở hữu đất đai đã và đang diễn ra trên thực tế một cách không thể tránh khỏi, dẫn đến vô hiệu hoá chế độ sở hữu toàn dân về đất đai như khẳng định trong Hiến pháp 1992. Như trên đã nói, “chủ sở hữu đất đai” luôn luôn tách rời khỏi người chiếm hữu và sử dụng đất. Nhà nước (là đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai) cố gắng duy trì quyền sở hữu của mình bằng cách can thiệp vào quá trình sử dụng và định đoạt đất. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra các quyền can thiệp một cách chủ động  này của Nhà nước đã và đang dần dần bị hạn chế và/hoặc khống chế bởi chính các yếu tố thị trường. Sự tác động của các quy luật thị trường (không chỉ bó hẹp trong nước mà còn bao gồm cả thị trường quốc tế và toàn cầu) gây sức ép làm phá vỡ các kế họach chủ động, và trên thực tế những năm vửa qua đã buộc các cơ quan Nhà nước thường xuyên phải thay đổi các quy họach phát triển kinh tế nói chung và quy hoạch sử dụng đất nói riêng đã ban hành. Thực tế cũng chỉ ra rằng các dự án kinh tế có quy mô vừa và nhỏ có thể đáp ứng yêu cầu phải tuân thủ quy họach; song các dự án lớn, chắc chắn sẽ tác động làm thay đổi các quy họach phát triển. Hơn nữa, các dự án đó lại được khởi xướng và quyết định bởi các lực lượng tư nhân, là đối tượng chắc chắn chủ yếu quan tâm đến tỷ suất thu hồi đầu tư và lợi nhuận, hơn là những mục tiêu quốc kế, dân sinh. Câu hỏi đạt ra là các cơ quan cấp phép đầu tư có thể từ chối cho phép các dự án đầu tư mang tính “gây sức ép” như vậy được không ? Có thể, nhưng rất khó, bởi về mặt công khai, Nhà nước đang và luôn luôn đứng trước một sức ép khác còn lớn và có tính trực tiếp hơn, đó là nâng cao và duy trì tỷ lệ tăng trưởng kinh tế, đồng thời tạo ra công ăn việc làm, lấy phát triển kinh tế để bảo đảm ổn định chính trị và xã hội.
  19. Những điều nêu ra một cách khái quát như vậy diễn tả bản chất của quá trình tư nhân hoá đất đai, trong đó các cơ quan quản lý Nhà nước không còn đủ sức để sử dụng các công cụ và biện pháp hành chính nhằm kiểm soát sự vận động của các yếu tố và quy luật thị trường, dẫn đến đánh mất các thực quyền của người chủ sở hữu. Hậu qủa của nó, mà cả Nhà nướcvà xã hội phải gánh chịu là giá đất ngày càng tăng trong khi hiệu quả thật sự của các dự án đầu từ thì ngày càng thấp.
  20. Tóm lại, sau khi sơ khảo pháp luật đất đai có thể thấy rằng các quy định của HP 1992 sửa đổi 2001 đã nhanh chóng trở nên lỗi thời trước những biến đổi rất nhanh của đời sống. Hệ thống pháp luật về sở hữu của nước ta, đặc biệt là các quan niệm về sở hữu toàn dân về đất đai đã không được cải tiến đáp ứng thay đổi nhanh của thực tế. Vì vậy cần đánh giá quan niệm về sở hữu toàn dân của Hiến pháp 1992 đã thể hiện những khía cạnh bất cập, ít thực tiễn, và không hữu dụng của nó, cần tìm những hướng cải cách mới, hoặc là sửa đổi hoặc thay khái niệm này, hoặc tạo cơ hội trên thực tế nhằm đẩy mạnh đa dạng hoá sở hữu về đất đai, bao gồm sở hữu quốc gia (vĩnh viễn hay về cơ bản không tư nhân hoá), sở hữu của chính quyền và sở hữu tư nhân. Điều này là thông lệ phổ biến ở hầu hết các nước đã phát triển thành công.

 

III. Kiến nghị sửa đổi các quy định của Hiến pháp 1992 về sở hữu toàn dân

 

  1. Bỏ khái niệm sở hữu toàn dân: Sau khi nghiên cứu, chúng tôi thấy có nhiều giải pháp có thể đề xuất để sửa đổi Hiến pháp 1992. Nếu có đủ quyết tâm chính trị mạnh mẽ, có thể mạnh dạn loại bỏ khái niệm “sở hữu toàn dân”. Quan niệm này có nguồn gốc từ cuộc phân chia ý thức hệ XHCN và TBCN, là một quan niệm chính trị hoặc kinh tế chính trị, xét về mặt pháp lý rất khó có giá trị hữu dụng.
  2. Du nhập khái niệm sở hữu quốc gia: Nếu bỏ khái niệm sở hữu toàn dân, thì đối với những loại tài sản công cộng thiết yếu phải được quản lý tập trung bởi chính quyền trung ương hoặc địa phương, có thể nên du nhập hai khái niệm khả dụng hơn là sở hữu quốc gia và sở hữu của chính quyền (bao gồm sở hữu của chính quyền trung ương và sở hữu của chính quyền địa phương như tỉnh, huyện và xã), coi đó là hai hình thức quan trọng nhất của sở hữu công cộng. Đây là hai loại hình sở hữu phổ biến trên thế giới, có ý nghĩa rõ ràng. “Quốc gia” khác với toàn dân, bao gồm cả lịch sử của nhiều thế hệ người Việt Nam sống trên lãnh thổ này (tức quá khứ), hiện tại (toàn dân) và tương lai (bao hàm sự phát triển, lưu ý tới quyền lợi của các thế hệ công dân còn chưa được sinh ra). Quốc gia là phạm trù khái quát nhưng có thực, tồn tại lâu dài, không phụ thuộc vào người dân với tư cách các cá thể thuộc phạm trù có tính biến động. Sở hữu quốc gia có ý nghĩa đặc biệt, là đối tượng bất di, bất dịch, không thể mua, bán, chuyển nhượng và được bảo hộ đặc biệt. Có thể tuyên bố sông suối, không gian, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, bờ biển, thềm lục địa, vùng trời thuộc loại sở hữu quốc gia.
  3. Thu hẹp đối tượng sở hữu quốc gia: Về phương diện đối tượng sở hữu:Hiến pháp 1992 hiện hành, tại Điều 17, liệt kê các đối tượng thuộc sở hữu toàn dân, tuy nhiên vừa quá tuỳ nghi, vừa không cụ thể và đặc biệt không có sự phân loại theo cấp độ quan trọng xét về mặt tài sản của một quốc gia hay nhà nước. Chẳng hạn, khi nói đến các “công trình kinh tế, văn hoá và khoa học…” thì quá mở và tuỳ nghi, hoặc khi liệt kê các đối tượng sở hữu thì lại đồng hạng giữa “đất đai, rừng núi, sông hồ …” với “phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp…” vốn rất khác nhau về tính chất và ý nghĩa kinh tế - xã hội. Cần lưu ý rằng tài sản thuộc sở hữu “quốc gia”, “nhà nước” hay “toàn dân” không chỉ mang đến nguồn lợi mà còn là gánh nặng về tài chính và các nghĩa vụ khác đối với nhân dân, trước hết với tư cách là người đóng thuế, do đó, vấn đề không chỉ là bảo vệ đối với các tài sản này mà còn là sự kiểm soát của nhân dân đối với sự gia tăng của nó (ví dụ sự đầu tư xây dựng công trình hay mua sắm của các cơ quan chính quyền cần phải bị kiểm soát trong các giới hạn theo luật định).  Do đó, chúng tôi đề xuất cần có cơ chế pháp lý để phân định, phân loại, kiểm soát sự gia tăng và biến động cũng như đặt ra các giới hạn về loại cũng như quy mô giá trị đối với các tài sản thuộc loại hình sở hữu đặc biệt này.
  4. Phân biệt sở hữu quốc gia với sở hữu của pháp nhân công quyền: Khác với sở hữu quốc gia là bất biến, không thể định đoạt chuyển nhượng được, sở hữu của các cấp chính quyền, ví dụ các ngôi nhà hoặc lô đất của chính quyền trung ương hoặc địa phương có tính linh hoạt và có thể tham gia các giao dịch dân sự, thương mại. Chính quyền có thể mua, bán, chuyển đổi, chuyển nhượng các đối tượng thuộc sở hữu của mình trên cơ sở Bộ luật Dân sự. Chính quyền, về bản chất là một pháp nhân công, cũng có các quyền tài sản có thể so sánh với các pháp nhân tư khác.
  5. Tuyên bố đa sở hữu về đất đai: Xét về quyền năng khai thác, hưởng dụng và định đoạt, trên thực tế hàng triệu mảnh đất ở Việt Nam đã được sở hữu không khác các tài sản tư, dấu hiệu đa sở hữu về đất đai là một thực tế đã được xác lập và khó có thể đảo ngược. Nếu mạnh dạn chấp nhận thực tế đó, cần chấm dứt tuyên bố sở hữu toàn dân đối với toàn thể đất đai nói chung. Dù không còn nắm sở hữu về đất đai, với tư cách là quyền lực công cộng, Nhà nước vẫn còn khả năng duy trì vô số các chính sách khác nhằm kiểm soát phúc lợi một cách công bằng trong quá trình khai thác và hưởng dụng đất đai.

 

Tài liệu tham khảo:

 

  1. Các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980 và 1992 (sửa đổi 2001).
  2. R. C Ellickson et al, Perpectives on Property Law, Little, Brown and Company, 1995;
  3. Truong Thien Thu, Ranjith Perera, Intermediate levels of property rights and the emerging housing market in HCM City, Vietnam, Land Use Policy 28 (2010) 124-138,
  4. Luật Vật quyền của CHND Trung Hoa ban hành ngày 16/03/2007,
  5. TS Nguyễn Ngọc Điện về quyền tài sản trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp (www.nclp.org.vn) gồm: (i) Xây dựng lại chế định chiếm hữu bằng chất liệu khoa học pháp lý, (ii) Hoàn thiện chế định pháp luật về sở hữu bất động sản trong khung cảnh hội nhập, (iii) Cấu trúc kỹ thuật của hệ thống pháp luật sở hữu bất động sản Việt Nam: Góc nhìn pháp luật và (iv) Mối quan hệ giữa đăng ký bất động sản và xác lập quyền sở hữu bất động sản.

 


* PGS TS Trưởng Khoa Luật, ĐHKT TPHCM, Email: nghiapd@ueh.edu.vn

Saturday, 7 April 2012

611.Doanh nghiệp Việt Nam đã kiệt sức!

Doanh nghiệp Việt Nam đã kiệt sức!

SGTT.VN - Trả lời phỏng vấn TBKTSG về những chỉ số kinh tế quí 1-2012, TS. Trần Đình Thiên, viện trưởng viện Kinh tế Việt Nam, cho rằng các doanh nghiệp hiện đang bế tắc cả đầu vào lẫn đầu ra. Ông nói: “Phải nói là doanh nghiệp cũng dai sức đấy, nhưng đến giờ họ đã kiệt sức rồi”.

TBKTSG: Thưa ông, một vài chỉ số kinh tế quí 1 có dấu hiệu tích cực như chỉ số giá tiêu dùng tăng thấp, nhập siêu giảm nhưng dường như những kết quả đó lại ẩn chứa những lo ngại khác về sức mua đã suy yếu và sản xuất đang đình trệ?

TS Trần Đình Thiên Ảnh: chungta.vn

TS. Trần Đình Thiên: Nguyên nhân của tình trạng này là do sự tích tụ khó khăn từ rất lâu rồi chứ không phải bây giờ mới bắt đầu. Lạm phát cao dẫn tới lãi suất cao kéo dài quá lâu gây nên bất ổn vĩ mô kéo dài. Điều này khiến cho cả doanh nghiệp và người dân đều khốn đốn. Bất ổn cao thì đầu tư khó, nhưng đầu cơ tăng lên. Tình trạng của mấy năm vừa rồi là như thế.

Hiện nay, lạm phát cao ảnh hưởng đến sức mua thị trường đã rất rõ. Sức mua giảm thì hàng tồn kho tăng cao. Trong khi lãi suất cao đánh trúng “đầu vào” của doanh nghiệp, thì ách tắc ở khâu tiêu thụ đánh trúng “đầu ra”. Thị trường thế giới không sôi động, còn thị trường trong nước cực kỳ khó khăn.

Doanh nghiệp bị khó cả hai đầu. Họ phải chiến đấu với tình trạng này nhiều năm rồi. Phải nói là doanh nghiệp Việt Nam cũng dai sức đấy, nhưng đến nay đã kiệt sức nhiều.

Bằng chứng không phải ở số lượng các doanh nghiệp đóng cửa ngày càng tăng mà quan trọng hơn là mức độ giảm công suất. Hiện nay có lẽ đa số doanh nghiệp buộc phải giảm công suất. Điều đó giải thích tại sao quí 1 này mặc dù lạm phát giảm nhưng tình hình vẫn khó khăn là như vậy. Năm 2012 có thể hình dung ra tình huống là lạm phát giảm nhưng nền kinh tế vẫn trì trệ, đình đốn. Việc suy giảm tốc độ tăng trưởng kéo dài sẽ trở thành tình thế rất nguy hiểm. Đây chính là điểm mà nỗ lực chính sách cần phải tập trung vào.

Số lượng doanh nghiệp ngừng hoạt động trong quí 1 đã tăng rất nhiều, đó có phải là cái giá phải trả để đổi lấy mục tiêu cao nhất là ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát?

Các doanh nghiệp đóng cửa chính là sự trả giá của nền kinh tế trong tình trạng bất ổn vĩ mô kéo dài quá lâu. Thực ra bất ổn kéo dài đến ngưỡng khiến lạm phát không giảm, kinh tế đình đốn, tiêu thụ khó khăn thì việc số các doanh nghiệp đóng cửa tăng lên là câu chuyện đã được dự báo trước. Về mặt lôgic, điều đó không có gì lạ nhưng thực tiễn cho thấy cái giá đó quá đắt.

Thưa ông, có phải vấn đề lớn nhất hiện nay của doanh nghiệp là thiếu vốn và không tiếp cận được nguồn vốn vay. Đó là nguyên nhân chính khiến nhiều doanh nghiệp ngừng hoạt động, sản xuất bị đình đốn?

Theo ông Thiên, đúng là việc tiếp cận nguồn vốn của doanh nghiệp khó khăn, tính thanh khoản trong hệ thống ngân hàng là kém (ảnh chỉ mang tính minh hoạ). Ảnh: Lê Quang Nhật

Đúng là việc tiếp cận nguồn vốn của doanh nghiệp khó khăn, tính thanh khoản trong hệ thống ngân hàng là kém. Mặc dù lạm phát đã giảm, kéo theo kỳ vọng lãi suất giảm, tiếp cận vốn dễ dàng hơn, nhưng trên thực tế thanh khoản không được cải thiện bao nhiêu. Đây là bài toán khó.

Nhưng cần đặt bài toán sâu hơn, cụ thể hơn. Không phải là chuyện lãi suất cao khiến doanh nghiệp không tiếp cận được nguồn vốn, mà quan trọng là doanh nghiệp hiện không đủ năng lực để hấp thụ vốn. Doanh nghiệp bị nợ xấu, vốn bị “ngâm” quá lâu, nên không thể vay thêm được nữa. Như vậy một mặt ngân hàng có vốn họ cũng không dám cho vay. Mặt khác doanh nghiệp mà không tiêu thụ được sản phẩm thì bản thân họ thấy vay vốn chả để làm gì cả. Không phải mọi doanh nghiệp đều sẵn sàng vay vốn. Tình hình hiện nay căng như một vòng xoáy. Cái này không phải do lỗi doanh nghiệp, hay lỗi ngân hàng, mà là hệ quả của quá trình khó khăn kéo dài.

 Vậy giải pháp cho doanh nghiệp hiện nay là gì?

Nhiệm vụ ổn định kinh tế vĩ mô giờ cần được hiểu là phải khôi phục lại điều kiện tăng trưởng cho doanh nghiệp. Cần tiếp tục kéo lạm phát xuống để lãi suất hạ, trên cơ sở đó doanh nghiệp tiếp cận được vốn với lãi suất thấp. Đó là một vế.

Vế thứ hai là làm sao cải thiện đầu ra. Doanh nghiệp mà co hẹp sản xuất là sinh ra thất nghiệp, thu nhập giảm, kéo theo hàng loạt hệ quả xã hội. Giải pháp có thể phải giảm thuế, miễn thuế, thay vì hoãn nộp thuế. Điều đó đồng nghĩa với việc khuyến nghị chính sách là chính phủ nên giảm thu. Giảm thu để kiên quyết giảm chi, tăng hiệu quả của chi. Nếu cứ hô hào giảm chi nhưng thu không giảm thì gánh nặng cho doanh nghiệp vẫn còn, trong khi đó hiệu quả đầu tư công vẫn chưa được cải thiện.

Các đề xuất thu phí lúc này cũng phải được cân nhắc kỹ vì sẽ lại gây ra tâm lý sưu cao thuế nặng, khiến doanh nghiệp đã yếu càng yếu hơn.

Theo Thời báo Kinh Tế Sài Gò

Friday, 6 April 2012

610. Đình đốn và nguy cơ thiểu phát?

Theo Vef.vn: Với thực trạng ngày càng trở nên khó khăn đối với khối sản xuất, những dấu hiệu của đình đốn đã xuất hiện và có nguy cơ dẫn đến thiểu phát kinh tế.

Hai đầu cán cân

Vào thời điểm tháng 11/2011, khi lần đầu tiên người đứng đầu ngành ngân hàng tuyên bố trước Quốc hội là sẽ không một ngân hàng nào phải phá sản, con số doanh nghiệp phải giải thể hoặc lâm vào tình cảnh tương tự qua một số thống kế đã lên đến gần 50.000.

Có một sự liên hệ giữa hai nhóm này khi một bên được cam kết hỗ trợ và để không đổ vỡ; còn một bên thì hàng chục ngàn DN khó khăn với nguyên nhân lớn từ lãi suất quá cao. Dường như một một đầu cán cân kinh tế đang bị đè nén bởi những vấn đề của nhóm "đặc thù" - ngân hàng?

Và trong khi lo chấn chỉnh những ngân hàng yếu kém ở một đầu cân, ở đầu cân bên kia con số về tỷ lệ phá sản cho phép của doanh nghiệp gần như không được đề cập. Khác hẳn với mức lợi nhuận vài ba ngàn tỷ đồng hàng năm của mỗi ngân hàng, doanh nghiệp sản xuất chỉ còn duy nhất triết lý tự thân: To be or not to be.


Trong khi đó, từ nhiều tháng qua các cơ quan tham mưu về phát triển kinh tế như Bộ Kế hoạch và Đầu tư lại đã không nêu ra bất kỳ đề xuất nào về giải pháp hạn chế hoặc giảm thiểu tỷ lệ doanh nghiệp lâm vào đường cùng.

Vào quý đầu của năm 2012, những khốn khó của doanh nghiệp còn trở nên "minh bạch" hơn: chỉ theo con số công bố chính thức, có trên chục ngàn doanh nghiệp phải giải thể và ngưng hoạt động do thiếu vốn. Tuy nhiên, trong một đánh giá khác, Bộ KHĐT vẫn tiếp tục cho rằng: "Tình hình kinh tế 3 tháng đầu năm 2012 có những chuyển biến tích cực. Các ngành, các lĩnh vực sản xuất kinh doanh đều có bước phát triển".

Tuy nhiên, khác với "những chuyển biến tích cực" này, những con số từ Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam lại có một nét chấm phá rất dị biệt: ít nhất 10% số doanh nghiệp đã phải ngừng hoạt động.

Còn theo nhận định của chuyên gia, trong quý 4/2011, ảnh hưởng của việc thắt chặt tín dụng đến sản xuất là rất rõ ràng khi chỉ số tăng trưởng công nghiệp giảm từ 9% xuống còn 6,8%. Đến tháng 2/2012, chỉ số này đã có một buớc thụt lùi sâu sắc về ngưỡng 4%, đặc biệt nhóm ngành chế tạo chỉ tăng 2,4% so với mức tăng 12% trong 7 tháng đầu năm 2011. Rất nhiều ngành có tỷ trọng đóng góp lớn trong tổng giá trị sản xuất thậm chí còn tăng trưởng âm.

Với thực trạng ngày càng trở nên khốn khó như thế, lo ngại về việc những dấu hiệu của đình đốn sản xuất đã xuất hiện. Nhưng cho đến nay, các cơ quan quản lý nhà nước lại chưa hề xuất hiện một sự thừa nhận nào về trạng thái "đình lạm" của nền kinh tế.

Trong khi đó, "Chỉ tiêu" thất nghiệp vì thế dường như cũng bị "quên lãng". Nói đúng hơn, tỷ lệ thất nghiệp chính thức, thường được mô tả như hệ quả của con số doanh nghiệp phá sản theo thống kê chính thức, là không có gì đáng lo ngại. Nhưng chỉ cần nhìn vào cảnh hàng trăm ngàn công nhân không có tiền mua vé tàu về quê ăn tết 2012 cũng đủ thấy hoàn cảnh bĩ cực về thu nhập dẫn đến trạng thái bĩ cực về xã hội đã dâng cao đến thế nào.

Cơ hội nào cho DN?

Cho đến nay, các chính sách lớn về điều hành nhằm kiềm giữ chỉ số lạm phát từ năm 2011 và mục tiêu lạm phát dưới 1 con số trong năm 2012 đã gây ra những hệ lụy tất yếu. Đó là sự suy giảm tăng trưởng mà nhiều chuyên gia hay gọi là một cái giá phải đánh đổi.

Nếu quý 1 năm 2012 lạm phát tăng tổng cộng chưa đầy 3% trong quý và đặc biệt chỉ có 0,16% trong tháng 3 là một điều tích cực thì một vấn đề được cảnh báo đã xảy ra: ưu tiên mục tiêu khống chế lạm phát đã ảnh hưởng đến tăng trưởng và lo lắng hơn có thể xảy ra là nếu tiếp tục các động thái "quyết liệt" sẽ triệt tiêu phần lớn sức sản xuất xã hội?

Thực ra đã có quá nhiều tranh luận trong giới điều hành và chuyên gia về vấn đề trên. Phương án được xem là ổn thỏa nhất là làm sao dung hòa được mục tiêu kềm giữ lạm phát và đồng thời khơi dậy khả năng tạo ra giá trị thặng dư cho các ngành sản xuất.


Tuy nhiên, điều đáng nói là nếu như biểu hiện "đình lạm" đã xuất hiện thì những cơ quan có chức năng điều tiết tín dụng và tài chính nhằm phục vụ nền kinh tế như Ngân hàng nhà nước và Bộ Tài chính lại cũng có biểu hiện đình trệ khi chậm xoay chuyển trước thực tế của DN.

Những cơ hội tốt nhất để phục hồi phần nào đó sức sản xuất đã chậm được triển khai, hoặc đã bị bỏ qua. 5 tháng liên tiếp chỉ số lạm phát dưới 1% vào nửa cuối năm 2011 có ý nghĩa như một cơ hội hơn là một lời hứa giảm lãi suất.

Nếu lãi suất được kéo giảm từ tháng 9/2011 thì sự thể liệu có khả quan hơn? Đó cũng là thời điểm mà lần đầu tiên trong năm 2011, con số gần 50.000 doanh nghiệp phá sản và giải thể được công bố như một thực tế đầy bức xúc.

Song từ tháng 9/2011, suốt 7 tháng qua, nhiều lần người đứng đầu Chính phủ đích thân yêu cầu "giảm ngay lãi suất" nhưng mãi đến tháng 3, điều này mới được thực hiện.

Cũng trong 7 tháng qua, bất chấp tình trạng chết dở sống dở của doanh nghiệp ở một đầu cân, đầu cân bên kia vẫn nhịp nhàng tung hứng hoạt động của vàng và ngân hàng. Các doanh nghiệp và ngân hàng kinh doanh vàng thi nhau làm giá và thao túng trong mọi khâu từ nhập khẩu, sản xuất, niêm yết đến tiêu thụ...; thị trường liên ngân hàng sôi động với tình trạng lãi suất liên ngân hàng có lúc tăng đến 30%, nhưng lại chỉ nhằm phục vụ cho ý đồ gây sức ép về thanh khoản và động cơ thâu tóm lẫn nhau; bất chấp lượng vốn ứ đọng khá lớn trong hệ thống ngân hàng, lãi suất cho vay vẫn không hế hạ để DN có thể tiếp cận được.

Vào quý 1/2012, sau khi "loạn lạc" từ thị trường vàng và liên ngân hàng đã tạm lắng, sự náo động duy nhất lại thuộc về một thị trường có tính đầu cơ rất cao, kèm theo vô số đồn đoán về việc một số ngân hàng nào đó đã tung tiền nhàn rỗi để "gom hàng" và "đánh lên" chứng khoán.

Nguy cơ thiều phát dẫn đến lạm phát?

Trong một cuộc họp của Thủ tướng với giới chuyên gia vào tuần cuối tháng 3/2012, lần đầu tiên xảy ra sự việc chủ tịch một ngân hàng thương mại cổ phần ngoài quốc doanh - Ngân hàng ACB đã cho biết, ACB hiện còn tồn đến 3 tỷ USD mà không cho vay được. Tiết lộ chưa có tiền lệ này đã gián tiếp cho thấy, "khó khăn thanh khoản" của ngân hàng dường nhưu đã qua.

Rõ ràng, con số hàng trăm ngàn tỷ đồng tồn ứ trong hệ thống ngân hàng, chí ít cũng nằm trong nhóm G12, không phải chỉ là lời đồn đoán. Mà đó là một hiện thực, mô tả cho nghịch lý quá về chuyện ngân hàng dôi dư vốn, nhưng nền kinh tế và các doanh nghiệp lại bị "đói ăn", dẫn đến nguy cơ đình lạm. hoặc thiểu phát.

Đã có rất nhiều chuyên gia đã cảnh báo về việc nếu siết quá chặt tín dụng, hệ quả tăng trưởng thấp dù sẽ góp phần "làm đẹp" con số lạm phát, nhưng về lâu dài sẽ lại là tác nhân sinh ra lạm phát. Khi đó, như một cơ thể trọng bệnh kéo dài quá lâu, khả năng hồi phục sẽ khó khăn hơn nhiều so với hiện nay. Khi đó, động lực sản xuất sẽ bị giảm về mức tối thiểu khiến cung hàng hóa trở nên khan hiếm hơn hẳn, làm cho giá cả hàng hóa có thể tăng lại. Mà như thế thì không thể nói khác hơn là lạm phát những năm trước một lần nữa sẽ tái hiện.

Trong trường hợp sớm nhất, theo chuyên gia Phạm Đỗ Chí, lạm phát có thể bùng phát ngay từ quý 3/2012. Và như thế, liệu "quyết tâm kềm giữ lạm phát" của Chính phủ vì thế đang có nguy cơ bị lung lay?

Cho đến giờ, vẫn chưa phải quá trễ để minh chứng cho khả năng điều hành kinh tế của Chính phủ để xoay chuyển tình thế

Monday, 2 April 2012

609.GIÁ TRỊ PHÁP LÝ CỦA CHỨNG CỨ GIAO DỊCH ĐIỆN TỬ

Theo: TTPLDS's blog

THS. NGUYỄN HẢI VÂN – Công ty Luật hợp danh Đông Á

Hiện nay, trong quá trình hòa nhập nền kinh tế toàn cầu, việc các doanh nhân thực hiện các giao dịch thương mại, dân sự thông qua các phương tiện điện tử đã dần trở thành một xu hướng phổ biến, bởi tính nhanh gọn, hiệu quả của hình thức này.

Tuy nhiên, trong thời gian qua, tại Việt Nam các cơ quan tài phán (tòa án, trọng tài thương mại) chưa mạnh dạn nhìn nhận tính pháp lý đầy đủ của các chứng cứ giao dịch điện tử (CCGDĐT) trong quá trình giải quyết các vụ tranh chấp kinh tế, dân sự, lao động…Để đánh giá toàn diện giá trị pháp lý của CCGDĐT, sau đây chúng tôi sẽ nêu một số ý kiến và viện dẫn các căn cứ để chứng minh giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu và thông tin trong thông điệp dữ liệu.

Về khái niệm giao dịch dân sư, theo Điều 121 Bộ luật Dân sự (BLDS) “Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”.

Về hình thức của giao dịch dân sự, Điều 124 BLDS cũng khẳng định: “Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.

Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu được coi là giao dịch bằng văn bản”

Rõ ràng, cơ sở pháp lý của hình thức thông điệp dữ liệu đã được khẳng định một cách chắc chắn trong BLDS. Bên cạnh đó, theo Khoản 5, Khoản 6 Điều 4 Luật Giao dịch Điện tử (GDĐT) có hiệu lực ngày 01/03/2006, thì: “Dữ liệu là thông tin dưới dạng ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự”, “Giao dịch điện tử là giao dịch được thực hiện bằng phương tiện điện tử”

“Thông điệp dữ liệu là thông tin được tạo ra, được gửi đi, được nhận và được lưu trữ bằng phương tiện điện tử” (Khoản 12 Điều 4 Luật GDĐT)

“Thông điệp dữ liệu được thể hiện dưới hình thức trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương tự khác

Thông tin trong thông điệp dữ liệu không bị phủ nhận giá trị pháp lý chỉ vì thông tin đó được thể hiện dưới dạng thông điệp dữ liệu” (Điều 10 Luật GDĐT)

Điều 12 Luật GDĐT khẳng định “Thông điệp dữ liệu có giá trị như văn bản”.Không chỉ vậy, Điều 13 của Luật còn khẳng định mạnh mẽ hơn nữa: “Thông điệp dữ liệu có giá trị như bản gốc.

Thông điệp dữ liệu có giá trị như bản gốc khi đáp ứng được các điều kiện sau đây:

1. Nội dung của thông điệp dữ liệu được bảo đảm toàn vẹn kể từ khi được khởi tạo lần đầu tiên dưới dạng một thông điệp dữ liệu hoàn chỉnh.

Nội dung của thông điệp dữ liệu được xem là toàn vẹn khi nội dung đó chưa bị thay đổi, trừ những thay đổi về hình thức phát sinh trong quá trình gửi, lưu trữ hoặc hiển thị thông điệp dữ liệu;

2. Nội dung của thông điệp dữ liệu có thể truy cập và sử dụng được dưới dạng hoàn chỉnh khi cần thiết.”

Điều 14 Luật GDĐT nhấn mạnh “Thông điệp dữ liệu có giá trị làm chứng cứ

1. Thông điệp dữ liệu không bị phủ nhận giá trị dùng làm chứng cứ chỉ vì đó là một thông điệp dữ liệu.

2. Giá trị chứng cứ của thông điệp dữ liệu được xác định căn cứ vào độ tin cậy của cách thức khởi tạo, lưu trữ hoặc truyền gửi thông điệp dữ liệu; cách thức bảo đảm và duy trì tính toàn vẹn của thông điệp dữ liệu; cách thức xác định người khởi tạo và các yếu tố phù hợp khác.”

Đối với thông tin trích xuất từ trang thông tin điện tử, theo Điều 23 Luật Công nghệ Thông tin (có hiệu lực ngày 01/01/2007) “Tổ chức, cá nhân có quyền thiết lập trang thông tin điện tử theo quy định của pháp luật và chịu trách nhiệm quản lý nội dung và hoạt động trang thông tin điện tử của mình”.

Như vậy, với các căn cứ pháp lý được viện dẫn như trên, chúng ta có thể rút được 3 kết luận quan trọng sau:

- Thông điệp dữ liệu có giá trị như văn bản pháp lý thông thường.

- Thông điệp dữ liệu có giá trị như văn bản gốc nếu nó được bảo đảm toàn vẹn từ khi khởi tạo lần đầu, được lưu trữ và có thể truy cập được.

- Thông điệp dữ liệu có giá trị làm chứng cứ.

Từ các kết luận trên, trường hợp doanh nhân muốn cung cấp là thông điệp dữ liệu làm chứng cứ để cơ quan tài phán xem xét giải quyết một vụ tranh chấp, thì việc cung cấp đó phải đảm bảo 2 yêu cầu:

- Thông điệp dữ liệu được in ra thành văn bản.

- Thông điệp dữ liệu gốc được lưu trữ trong CD, USB kèm đường dẫn để truy cập khi cần thiết (nếu là email cá nhân thì thông điệp dữ liệu đó phải được bảo toàn nguyên vẹn trong hộp thư-inbox).

Chúng tôi cho rằng: thông điệp dữ liệu gốc hoàn toàn có thể được xem như một văn bản gốc, bởi tính hiện thực khách quan, chính xác của nó. Trong trường hợp thông điệp dữ liệu được truy xuất từ các trang web, thì cơ quan tài phán có thể truy cập trực tiếp vào đường dẫn do đương sự cung cấp, hoặc nếu thông tin trong email cá nhân, thì kiểm tra hộp thư. Trang web chỉ được khởi tạo khi cá nhân, tổ chức chủ trang web đó đã mua tên miền và đăng ký với tư cách chủ sở hữu, còn email cá nhân cũng thể hiện tính duy nhất, vì muốn sử dụng email phải có mã khóa (password), không thể ngụy tạo được. Trường hợp cơ quan tài phán nghi ngờ có sự gian dối trong việc khởi tạo lại một tên email thông thường và thư điện tử đã gửi đi (email đăng ký trên Yahoo!, Googgle, Hotmail..) thì hoàn toàn có thể gửi một công văn đến công ty cung cấp dịch vụ để xác minh. Việc kiểm tra này hoàn toàn khả thi, khi hiện nay các nhà cung cấp email như Yahoo!, Googgle, Hotmail..có văn phòng đại diện hoặc trụ sở tại Việt Nam, hơn nữa, các công ty dịch vụ này đa số được thành lập tại Mỹ, châu Âu, nên họ có thái độ tôn trọng và hợp tác với cơ quan tài phán khi có yêu cầu. Do vậy, nếu các doanh nhân liên quan đến một vụ tranh chấp, có thể mạnh dạn cung cấp thông điệp dữ liệu gốc có liên quan cho cơ quan tài phán.

Trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay, thì việc doanh nhân sử dụng các phương tiện điện tử để gửi thông điệp dữ liệu phục vụ kinh doanh là hành vi phổ biến, do vậy việc cơ quan tài phán (tòa án, trọng tài) chấp nhận tính khách quan, xác thực, hiệu lực pháp lý đầy đủ của thông điệp dữ liệu gốc cũng là vấn đề tự nhiên, khi Bộ luật Dân sự, Luật Công nghệ Thông tin, Luật Giao dịch Điện tử đã đề cập, viện dẫn đầy đủ căn cứ pháp lý về các giao dịch thông qua phương tiện điện tử, thông điệp dữ liệu. Việc cơ quan tài phán nhanh chóng áp dụng cách giải quyết này sẽ làm cho một vụ tranh chấp hoặc việc dân sự được giải quyết toàn diện, chính xác, nhanh gọn và khách quan hơn, nâng cao tính pháp quyền hiện đại trong hoạt động của hệ thống cơ quan tiến hành tố tụng nước ta./.

SOURCE: DOANH NHÂN VÀ PHÁP LUẬT

Trích dẫn từ: http://luatsudonga.org.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=148%3Agia-tri-phap-ly-cua-chung-cu-giao-dich-dien-tu&catid=1%3Anha-dat&Itemid=46&lang=vi

679.0 Hướng dẫn cài đặt AD RMS server ( Active Directory Rights Management Services) có trong Windows Server 2012.

Nguồn: https://mdungblog.wordpress.com/2018/06/21/simple-guide-huong-dan-cai-dat-ad-rms-windows-server-2012-r2/   Hôm nay mình xin giới thiệ...