Monday, 11 April 2011

383.Giá USD có thể lên 23.000 đồng


 

(VnMedia) - Lãnh đạo một ngân hàng nhận định, Quý I/2011 là một trong những quý đáng chú ý nhất đứng trên góc độ sự quyết liệt trong việc điều hành nền kinh tế. Động thái quan trong  chính sách điều hành tỷ giá có khả năng khiến kịch bản tỷ giá sẽ lên tới hơn 23.000VND/USD sẽ khó thành. Tuy vậy, cũng có những ý kiến khác cho rằng, áp lực về dự trữ ngoại hối sẽ ảnh hưởng tới tỷ giá vào cuối năm nay.

Báo cáo quý I/2011 của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, trong quý I vừa qua, NHNN đã rất tích cực trong việc triển khai một số biện pháp chỉ đạo điều hành tiền tệ, tín dụng và quản lý ngoại hối, vàng.

Một trong số đó là việc ban hành một số  văn bản quy định về cơ chế điều hành lãi suất, phí, ngoại tệ, như Thông tư quy định lãi suất huy động bằng VND của các tổ chức tín dụng (TCTD) không vượt quá 14%/năm; Thông tư quy định tổ chức tín dụng áp dụng lãi suất tối đa bằng mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn thấp nhất của tổ chức tín dụng (TCTD) theo từng đồng tiền trong trường hợp tổ chức, cá nhân rút tiền gửi trước hạn; Thông tư quy định cho vay bằng ngoại tệ của tổ chức tín dụng đối với khách hàng vay là người cư trú.

Song song đó, NHNN đã thực hiện các biện pháp hỗ trợ để quản lý thị trường ngoại hối, tỷ giá và ổn định thị trường vàng qua việc giám sát và theo dõi các TCTD thực hiện lãi suất tiền gửi tối đa bằng USD của tổ chức kinh tế tại TCTD; Thậm chí còn theo dõi và dự báo sát tình hình biến động giá vàng quốc tế, cung - cầu vàng trong nước để có biện pháp kịp thời nhằm ổn định giá vàng. Cũng trong quý I, NHNN đã  phối hợp với các bộ, ngành có liên quan kiểm tra , xử lý các trường hợp đầu cơ, găm giữ, kinh doanh trái pháp luật vàng, ngoại tệ.

Dù đã phát huy bằng nhiều biện pháp nhưng qua tổng kết hoạt động một số tình hình tiền tệ, tín dụng, ngoại hối trong quý I/2011, cho thấy tăng trưởng tín dụng bằng ngoại tệ quý I đã khá mạnh so với tín dụng bằng VND.

Tính đến hết ngày 16/3/2011, tổng phương tiện thanh toán ước tăng 2,07% so với cuối năm 2010, vốn huy động ước tăng 1,56%, tín dụng đối với nền kinh tế ước tăng 3,67% . Tín dụng bằng VND tăng 1,43%, trong khi đó tín dụng bằng ngoại tệ tăng tới 12,06%.

Cũng theo dữ liệu của NHNN, lãi suất huy động vốn VND ít biến động so với cuối năm 2010 và phổ biến ở mức 13,5-14%/năm, lãi suất cho vay tăng khoảng 1-1,5%/năm và hiện ở mức bình quân là 16,23%/năm, lãi suất cho vay lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn và xuất khẩu ở mức 14-16%/năm, lĩnh vực phi sản xuất là 18-22%/năm.

Lãi suất huy động USD lại có xu hướng tăng. ãi suất huy động USD bình quân là 4,65%/năm, cho vay là 6,83%. Lãi suất thị trường nội tệ liên ngân hàng trong những ngày giáp Tết Nguyên đán Tân Mão từ 14%-17%/năm, từ đầu tháng 2 giảm và ổn định ở mức 10,5-13%/năm. Trong những ngày cuối Quý I/2011, lãi suất thị trường liên ngân hàng tăng và hiện giao dịch ở mức khoảng 16-18%/năm, chủ yếu kỳ hạn dưới 1 tháng; lãi suất 1 tuần ở mức 18-20%/năm.

Sức nóng âm ỉ của thị trường ngoại hối khó nhận hơn so với sự sôi động của lãi suất thị trường nội tệ, do vậy, mới đây (9/4) NHNN có biện pháp chặn những nguy cơ ảnh hưởng tới kiềm chế lạm phát bằng quyết định điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ đối với các tổ chức tin dụng và áp trần lãi suất huy động tiền gửi USD (có hiệu lực từ ngày 13/4/2011). Theo đó,  tỷ lệ dự trữ bắt buộc áp dụng cho tất cả các ngân hàng thương mại (trừ Agribank) với tiền gửi kỳ hạn dưới 12 tháng từ 4% lên 6%, tiền gửi trên 12 tháng từ 2% lên 4%. Đối với Agribank và các quỹ tín dụng nhân dân thì tiền gửi bằng ngoại tệ kỳ hạn dưới 12% là 5%, trên 12 tháng là 3%.

Bước điều chỉnh này góp phần ổn định tỷ giá và tăng dự trữ ngoại hối. Theo quy định mới, nếu trần lãi suất bằng ngoại tệ dưới 3% , thì  cuộc đua lãi suất huy động bằng USD đang “nóng” ở mức tới hơn 6%/năm hiện nay sẽ sớm bị chấm dứt . Khi đó, so với lãi suất huy động VND, lãi suất ngoại tệ sẽ mất sức hấp dẫn.

Theo các chuyên gia kinh tế, lượng dự trữ ngoại hối hiện đang tăng lên, do gần đây NHNN đã tăng cường mua ngoại tệ vào. Việc điều chỉnh tăng dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ có khả năng làm giảm sự đầu cơ và nắm giữ ngoại tệ, đồng thời sẽ giúp lượng ngoại tệ trong dân chuyển đổi sang VND nhiều hơn, tạo nguồn USD dịch chuyển mạnh trở lại ngân hàng.

Đây cũng là một trong những biện pháp thắt chặt tiền tệ khi tăng dự trữ bắt buộc sẽ làm giảm tăng trưởng tín dụng bằng ngoại tệ. Tuy vậy, động thái thắt chặt này cũng sẽ khiến các ngân hàng thêm khó khăn trong thời điểm cần vốn để kinh doanh như hiện nay. Những ngân hàng có tỷ lệ tín dụng bằng ngoại tệ chiếm tỷ lệ lớn sẽ bị ảnh hưởng mạnh bởi chi phí vốn tăng.

Theo tính toán, hiện nay lãi suất giữa tiền VND và USD chênh lệch khoảng 11%, do vậy đồng USD chỉ hấp dẫn hơn VND khi VND mất giá hơn 11% so với USD trong năm nay. Như vậy,với dự điều chỉnh tăng dự trữ bắt buộc của NHNN, một số chuyên gia đã thay đổi con số dự đoán từ đầu năm, rằng có thể tỷ giá USD vào cuối năm nay khó có thể lên tới hơn 23.000 VND/USD.

Ảnh minh họa

Từ nay đến cuối năm tỷ giá USD vẫn còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố


Tuy vậy, vẫn còn nhiều dự đoán khác khi căn cứ vào thâm hụt thương mại trong quý I/2011 (âm 3,13 tỷ USD, so với năm 2010). Con số thâm hụt này vẫn là áp lực lớn đối với thị trường ngoại hối.

Theo lãnh đạo Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín, (Sacombank), NHNN Việt Nam đã gắn chặt tốc độ thắt chặt tiền tệ với nỗ lực kiềm chế lạm phát. Với tình hình hiện nay, chu kỳ thắt chặt tiền tệ kỳ vọng sẽ tiếp diễn ít nhất trong suốt quý II và đây là một sự quyết liệt cần thiết để có thể đạt được mục tiêu bình ổn hơn trong trung hạn.

Tuy nhiên, dưới một góc nhìn ngắn hạn hơn, có thể quan sát thấy tác dụng phụ , khi NHNN nhanh chóng vắt kiệt thanh khoản của hệ thống liên ngân hàng, tạo nên sự biến dạng trên thị trường tiền tệ với mức lãi suất dừng ở mức 20-22%. Những căng thẳng kết hợp với chi phí vay cao hơn rõ ràng đang gây áp lực lớn hơn đối với ngân hàng.

Đồng quan điểm này, có ý kiến nhận định, nếu căn bệnh kinh niên về thâm hụt thương mại chưa được giải quyết, khả năng nhu cầu cần ngoại tệ tăng mạnh vào cuối năm sẽ gây áp lực tăng tỷ giá.

Friday, 8 April 2011

382.Tại sao chuyện chính phủ đóng cửa chỉ xảy ra ở Mỹ?

Tại sao chuyện chính phủ đóng cửa

chỉ xảy ra ở Mỹ?

Chỉ ở nước Mỹ mới có kiểu mắc kẹt như thế này

Joshua E. Keating

Ngày 7 tháng 4 năm 2011


Hạn chót là ngày 8 tháng 4 đang đến gần ấy vậy mà Tổng thống Barack Obama và những người đứng đầu Quốc hội vẫn chưa thể giải quyết được những bất đồng về sửa đổi luật cho phép dùng ngân sách chi tiêu của chính phủ để tài trợ cho việc phá thai và sửa đổi Đạo luật Không khí Sạch [Clean Air Act] và vì thế chính phủ Liên bang rất có thể sẽ phải đóng cửa. Nếu cho tới thứ Hai tuần sau mà chính phủ vẫn không hoạt động trở lại thì hàng trăm ngàn viên chức chính phủ được coi là làm việc trong các ngành không thiết yếu sẽ phải nghỉ phép. Các ngành thiết yếu chẳng hạn như quốc phòng sẽ tiếp tục làm việc, nhưng quân nhân có thể sẽ không được trả lương. Các dịch vụ quan trọng như phúc lợi dành cho cựu chiến binh và thử nghiệm lâm sàng tại các Viện nghiên cứu y tế quốc gia [thuộc Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh] rất có thể cũng bị ngừng hoạt động. Các quốc gia khác đã từng bao giờ phải giải quyết vấn đề như thế này hay chưa?

Chưa bao giờ. Các quốc gia khác có thể gặp phải đảo chính, cách mạng, sụp đổ, nhưng một chính phủ bị đình trệ tới mức đơn giản là nó phải ngừng hoạt động thì chuyện đó dường như chỉ xảy ra ở Mỹ. Hệ thống chính trị của Mỹ có đặc điểm là nó có một ngành hành pháp mạnh và có quyền phủ quyết, còn Nghị viện thì thường là cản trở các đạo luật do chính phủ đưa ra, như thế thì cái chuyện đình trệ như chúng ta đang chứng kiến hiện nay cũng là điều đúng thôi. Ở chế độ nghị viện mà hầu hết các nền dân chủ ở châu Âu và châu Á hiện nay đang đi theo thì quy trình phê chuẩn ngân sách chi tiêu trên giấy tờ cũng diễn ra tương tự như ở Mỹ: thủ tướng chuẩn bị một “ngân sách của chính phủ” rồi đệ trình cho nghị viện để biểu quyết. Nếu nghị viện bác bỏ ngân sách đó thì điều đó thường được coi là một dấu hiệu cho thấy chính phủ không còn được nghị viện tín nhiệm nữa và chính phủ buộc phải ra đi.

Đây chính là điều đã xảy ra vào tháng trước tại Bồ Đào Nha khi Thủ tướng Jose Socrates đã từ chức sau khi một ngân sách chi tiêu với các biện pháp thắt chặt chi tiêu quá hà khắc đã bị nghị viện bác bỏ. Hiện tại đất nước này đang được lãnh đạo bởi một chính phủ lâm thời cho tới khi một cuộc bầu cử được tổ chức để thành lập ra một chính phủ mới – và có thể đoán được là tân chính phủ trong tương lai sẽ gặp khó khăn để nghị viện thông qua ngân sách chi tiêu bị cắt giảm của họ. Tuy nhiên, chính bởi vì một quốc gia theo chế độ nghị viện là “không có một chính phủ điều hành đất nước” song điều đó không có nghĩa là các cơ quan chính phủ ngừng hoạt động. Nhờ có các dịch vụ dân sự ổn định vững chắc và phi chính trị cho nên hầu hết các chính phủ theo chế độ nghị viện đều vẫn có thể duy trì hoạt động bất chấp ai đang nắm quyền. Nước Bỉ không có chính phủ điều hành đất nước kể từ tháng 6  năm 2010 nhưng tàu hỏa vẫn chạy đúng giờ, rác thải vẫn được thu gom và thậm chí ngân sách vẫn được thông qua.

Sự đóng cửa chính phủ theo kiểu của Mỹ về lý thuyết vẫn có thể xảy ra trong chế độ nghị viện nếu một ngân sách bị từ chối và chính phủ không ra đi, song trên thực tế điều này đã không thực sự xảy ra. Cách đây không lâu người ta lo sợ rằng nếu chính phủ của Thủ tướng Nhật Naoto Kan chứng tỏ không đủ khả năng để thông qua một kế hoạch ngân sách vào đầu năm tài khóa 2011 thì lương trả cho viên chức nhà nước và một số dịch vụ công có thể bị đình chỉ. Nhưng cuộc khủng hoảng này cuối cùng đã được ngăn chặn khi ngân sách đã được thông qua do có vụ động đất thảm khốc xảy ra hồi tháng trước. Chính phủ hiện nay vẫn tiếp tục đấu tranh để một loạt các dự thảo chi tiêu liên quan đến ngân sách nói trên được thông qua.

Ngay cả các chính phủ có cơ cấu giống với Mỹ, tức là có ngành hành pháp mạnh, thì họ dường như cũng không gặp nguy cơ phải đóng cửa khi xảy ra những bất đồng về ngân sách. Brazil đã bước sang năm 2008 mà không có ngân sách sau khi các kế hoạch chi tiêu của Tổng thống Luiz Inacio Lula da Silva bị Quốc hội từ chối, song không hề có sự gián đoạn hoạt động của các cơ quan chính phủ.

Thực ra, hiện tượng đóng cửa chính phủ chỉ là một nét đặc điểm của hệ thống chính trị của Mỹ kể từ 30 năm nay. Đạo luật chống chính phủ hoạt động nếu ngân sách không được thông qua [Anti-Deficiency Act], được ban hành lần đầu tiên vào năm 1884, cấm các cơ quan chính phủ liên bang tiến hành các hoạt động hoặc ký kết hợp đồng khi họ không được cấp đầy đủ ngân sách chi tiêu từ nguồn ngân sách đã được quốc hội biểu quyết. Nhưng lịch sử của hầu hết các quốc gia cho thấy các cơ quan chính phủ đơn giản vẫn tiếp tục hoạt động trong các giai đoạn không được cấp đủ ngân sách trong khi họ cố gắng hạn chế các chi tiêu không cần thiết vì họ cho rằng luật không cho phép họ đóng cửa hoàn toàn.

Tuy nhiên, vào năm 1980, bộ trưởng tư pháp của Jimmy Carter, Benjamin Civiletti, đã đưa ra một quan điểm thu hẹp hơn nữa phạm vi giải thích của đạo luật nói trên theo đó đạo luật này đòi hỏi các cơ quan chỉ ngừng hoạt động cho tới khi Quốc hội biểu quyết một ngân sách mới. Kể từ đó đã có năm lần chính phủ đóng cửa: hai lần dưới thời của Ronald Reagan chỉ kéo dài một vài giờ, một lần dưới thời của George H.W. Bush rất may lại rơi vào một ngày nghỉ cuối tuần, và hai lần dưới thời của  Bill Clinton kéo dài một lần 5 ngày còn lần kia là 21 ngày, trong thời gian đó ước tính có 800 000 nhân viên chính phủ phải nghỉ phép. Việc đóng cửa chính phủ tiểu bang cũng đã xảy ra một vài lần. Năm 1990, Quốc hội thông qua luật đảm bảo rằng các ngành thiết yếu như thực thi pháp luật và quốc phòng phải duy trì hoạt động trong thời gian không được cấp đủ ngân sách chi tiêu.

Đối với khủng hoảng như lần này, Quốc hội thường trì hoãn việc chính phủ đóng cửa bằng cách thông qua các dự thảo ngân sách chi tiêu được gọi là các biểu quyết tạm thời [continuous resolutions – Quốc hội thông qua ngân sách tạm thời trước khi ngân sách chính thức được biểu quyết vào cuối năm tài khóa]. Một số đề xuất cải tổ đã đề nghị Quốc hội tự động thông qua ngân sách tạm thời trong thời gian chính phủ không được cấp đủ ngân sách chi tiêu. Điều này có thể cứu  hàng ngàn nhân viên chính phủ và những người phụ thuộc vào dịch vụ của họ, song đó sẽ thực sự là một sự chịu trận trước một công cụ chính trị chỉ có duy nhất ở Mỹ: chiến thuật bên bờ vực thẳm.

(Lời cảm ơn xin được dành cho  George Guess, đồng giám đốc Trung tâm vì Dân chủ và Quản lý Bầu cử của Đại học American University; giáo sư Allen Schick tại Trường Chính sách Công thuộc Đại học Maryland; và Powell Bingham, giáo sư khoa học chính trị tại Đại học Rochester.)

Người dịch: Phạm Anh Tuấn

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2011

free counters

381. Phố núi B'Lao - ...Một chốn quay về (PI)

Phố núi B'Lao - ...Một chốn quay về (PI) ( hàng chôm)
May 3, '10 5:53 AM
for everyone
(Bài viết này quỷ tặng chị mebaubi, thường trò chuyện với chị đều thấy chị phải họp, họp suốt, hjhj, nên nay quỷ tặng chị chút thong thả bình yên của phố núi, cuộc sống vốn dĩ luôn bộn bề lo toan vậy nên thật quý lắm những phút giây chúng ta có thể chậm lại để đi "bên lề cuộc sống", 10 phút thôi chị nhé. :)

Trước giờ quỷ viết cũng nhiều bài về B'Lao quê mình, viết về những danh lam thắng cảnh, nơi du lịch như: thác Dambri, suối cát, đèo Bảo lộc, tu viện Bát Nhã, chùa Đăng Đừng, rừng thông...  Song bài viết này quỷ muốn chia sẻ về một B'Lao không có danh lam thắng cảnh, không có điểm du lịch, chỉ là một phố núi nhỏ xinh, bình dị song khi đến thăm và đi rồi lòng  quyến luyến mãi, khó quên.
Lần về quê này lại cho quỷ cảm nhận khác. B'Lao đón kẻ lang bạt trở về bằng cơn mưa ào ạt dữ dội, bằng cái lạnh tê tái trên từng ngón tay, bằng sương mù, nắng ấm và hơi thở thanh khiết của núi rừng.

Mùa này cũng đúng là thời tiết đặc trưng:MƯA!. B'Lao có 6 tháng mưa và 6 tháng năm, mắc mưa thì đừng nghĩ đến chuyện trú mưa vì: mưa dầm dề, mưa thối đất thối cát, mưa dài lê thê. rủi có ngớt chút thì cũng chỉ là trêu chọc những du khách nhẹ dạ cả tin mà thôi. Đến B'Lao bạn hãy cố gắng chiến thắng sự hấp dẫn của chiếc giường cùng chăn ấm để lang thang thật sớm, khi cả trấn nhỏ chìm ngập trong sương mù mờ áo, bạn nhớ quàng khăn thật kín để rảo bước dạo quanh phố nhỏ.

baoloc

Những bức ảnh này có lẽ không đẹp về kỹ thuật nhưng chắc chắn nó tràn đầy cảm xúc, đứng trên cầu trắng nhìn về hồ Bảo Lộc, một màn sương trắng xóa mờ mịt, chiếc cầu nhà thủy tạ thấp thoáng ẩn hiện.
baoloc

Sương giăng ngập lối, những đồi trà xen lẫn những hàng cây xanh càng huyền ảo hơn trong sương sớm.
baoloc

Những còn đường vẫn còn ngái ngủ, vắng tanh.
baoloc

Đèn đường đã tắt, sương tan dần trên mặt hồ, bắt đầu cho một ngày mới
baoloc

dù đâu đó sương đêm còn giăng giăng
baoloc

Những thảm hoa vàng soi bóng bên hồ, lúc đứng bên hồ trong nắng ban mai  quỷ lại miên man nhớ câu hát: "Ngày xưa có kẻ từ quan, lên non tìm động hoa vàng ngủ say..."
baoloc

Một chiếc thuyền câu bé teo teo,
Sóng biếc theo làn hơi gợn tý.
baoloc

Quán cafe nhỏ cùng với những chiếc thuyến đạp vịt xinh xinh bên hồ, thật là tuyệt khi dạo chơi trên mặt hồ và hít thở không khí trong lành của ban mai.
baoloc

Bắt đầu một ngày mới
baoloc

Bảo Lộc là "thủ đô trà" Việt Nam, quỷ chả khoái cái danh hiệu đó chút nào nhưng rất yêu thích trà, đây trà non khoe mình trong nắng sớm. Quỷ đang thực hiện một series về trà đạo, có lẽ sẽ "trình làng" một ngày không xa
baoloc

Quỷ & Nguyên quyết định đi Thác Dambri, vì đường vào thác cảnh rất đẹp, chuyến đi này chơi thác thì ít mà lang thang rong ruổi dọc đường thì nhiều.
baoloc

Nhớ hồi nhỏ quanh nhà là những hàng rào dâm bụt đỏ, trên cây dâm bụt có con bọ gì đó mà cứ quen gọi là con voi vì có cái mũi dài, thường hay bắt chơi.
baoloc

Dâm bụt, loài hoa gắn liền với nhiều kỹ niệm thời thơ ấu, hoa để ngắm, thân để làm roi. Không thể nhớ hết đã bị ăn đòn bao nhiêu lần bằng roi dâm bụt. Nhớ lại thấy sợ quá. hic
baoloc

Bảo Lộc địa hình không cao nên nhiều đồi ít núi, trà được trồng phủ khắp các ngọn đồi.
baoloc

Đi trên con đường nhỏ này vào mùa mưa thì khiếp lắm, toàn rêu vàng và trơn trợt. Người lúc nào cũng lấm lem bùn đất.
baoloc

Mùa này muacũng đã bắt đầu nở rộ, dọc đường bắt gặp những đồi mua nhỏ xinh. Nhìn cảnh này chắc chị mebaubi thích lắm.
baoloc

Nhớ lại những câu hát mà lúc nhỏ vẫn thường hay nghe: "Những đồi hoa sim ôi những đồi hoa sim tím chiều hoang biền biệt..." Câu hát sao buốn mà da diết. Hồi đó 2 mẹ con cứ thường ra tiệm đĩa ông Mười Trinh lựa nhạc rồi nhờ thu băng về nghe, nghe riết rồi mê: Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên, Vũ Thành An, Trịnh Công Sơn... Nay nhìn hoa mua lại nhớ trọn vẹn nững cảm xúc xưa.
baoloc

"Ngày xưa xa xôi em rất yêu màu tím, ngày xưa vô tư em sống trong trìu mến,..."
nguyen


"Những đồi hoa "mua"
những đồi hoa "mua" dài trong chiều không hết "

baoloc

Trên đường đi, quỷ gặp một đồng hoa dại mênh mông, cảnh giản dị mà mang vẻ đẹp quá đỗi thuần khiết
baoloc


Photobucket

Ngôi nhà nhỏ xinh nằm giữa vườn trà xanh bát ngát.
baoloc

Đây lối vào với hàng thông lãng mạn thẳng hàng, đi ngoài đường quỷ thấy hàng thông đẹp quá nên vào chụp hình, ngờ đâu anh chủ nhà cực kỳ thân thiện mới tham quan vườn, nhờ thế mà quỷ có bộ ảnh rất thú vị về trái cây mà sẽ giới thiệu với mọi người trong phần 2.
baoloc

"Em đến bên đời, hoa vàng một đóa..." mùa này dã quỳ đã bắt đầu nở, chưa rộ mà chỉ lác đác.
baoloc

Loanh quanh mãi đến chiều, định ngắm hoàng hôn trên đồi trà song trên đường về thấy cảnh mây về phố đẹp quá thế là cắm đầu chạy đi tìm chỗ để chụp, may mà kịp. Mây trườn trên sườn núi trong nắng chiều
baoloc

Những người đi hái chè, người đi làm, người đi chợ trên đường về nhà.

baoloc

Và ở một góc nhỏ khác mây cũng đang vờn nhau chuẩn bị về phố.
baoloc

Khi ráng chiều buông, tia nắng cuối ngày nhạt dần rồi tắt hẳn cũng là lúc B'Lao khoác lên mình lớp áo thâm trầm lặng lẽ, cái nhộn nhịp của phố thị cũng trốn mất nhường chỗ cho đêm vắng lặng và bình yên. Dạo quanh những con đường nhỏ, ghé nhà thủy tạ nhâm nhi tách cafe trong tiết trời se lạnh. Bỗng cảm thấy bao ưu tư, mỏi mệt của một ngày dần tan biến. Chỉ còn chút vị đắng ngọt ngào trên đầu môi và cái lạnh sương khuya thấm dần trên da thịt.
Khẽ nhắm mắt và chợt nhận ra rằng: "Cuộc đời đó, có bao lâu mà hững hờ"

Chuẩn bị "kết hối" chăng ?: http://www.thanhnien.com.vn/pages/20110310/xu-phat-mua-ban-ngoai-te-trai-phep-len-cao-nhat-500-trieu-dong.aspx

Thursday, 7 April 2011

380. HẠNH PHÚC VÔ BIÊN


 

 

From: jobSpace.vn [mailto:job@jobspace.vn]
Sent: Friday, April 08, 2011 1:19 PM
To:
Subject: [***SPAM*** Score/Req: 15.2/5.0] HẠNH PHÚC VÔ BIÊN

 

HẠNH PHÚC VÔ BIÊN

Hai người đàn ông đều bệnh nặng, được xếp chung 1 phòng tại bệnh viện.Một người được phép ngồi dậy mỗi ngày 1 tiếng để thông phổi. Giường ông ta nằm cạnh cửa sổ duy nhất trong phòng, người kia phải nằm suốt ngày.Hai người đã nói với nhau rất nhiều. Họ nói về vợ con, gia đình, nhà cửa công việc, những năm tháng trong quân đội và cả những kỳ nghỉ đã trải qua. Mỗi chiều khi được ngồi dậy, người đàn ông cạnh cửa sổ dành hết thời gian để tả cho người bạn cùng phòng nghe những gì ông thấy được ngòai cửa sổ. người kia, mỗi chiều lại chờ đợi được sống trong cái khỏanh khắc 1tiếng đó-cái thời gian mà thế giới của người đó mở ra sống động bởi những họat động và màu sắc bên ngòai. Cửa sổ nhìn ra 1 công viên với 1 cái hồ nhỏ xinh xắn. Vịt, ngỗng đùa giỡn trên mặt hồ trong khi bọn trẻ thả những chiếc thuyền giấy. Những cặp tình nhân tay trong tay nhau đi dạo giữa ngàn hoa và ráng chiều rực rỡ. Nhữngcây cổ thụ sum suê tỏa bóng mát, và xa xa là đường chân trời của thành phố ẩn hiện.Khi người đàn ông bên cửa sổ mô tả bằng những chi tiết tinh tế, người kia có thể nhắm mắt và tưởng tượng ra cho riêng mình 1 bức tranh sống động.1 chiều, người đàn ông bên cửa sổ mô tả 1 đòan diễu hành đi ngang qua.Du` ko nghe được tiếng nhạc, người kia vẫn như nhìn thấy được trong tưởng tượng qua lời kể của người bạn cùng phòng.
Ngày và đêm trôi dần…. 1 sáng, khi mang nước đến phòng cho họ, cô y tá phát hiện người đàn ông bên cửa sổ đã qua đời êm ái trong giấc ngủ. Cô báo cho người nhà đến mang ông đi. 1 ngày kia, người đàn ông còn lại yêu cầu được chuyển đến bên cạnh cửa sổ. Cô y ta đồng ý để ông được yên tĩnh 1 mình. Chậm chạp gắng sức, ông nhổm dậy bằng 2 cùi chỏ và ngắm nhìn thế giới bên ngòai.Ông căng thẳng nhìn ra cửa sổ.Đối diện ông chỉ là 1 bức tường xám xịt.


Oâng hỏi cô y tá điều gì khiến người bạn khốn khổ cùng phòng của ông đã mô tả cho ông nghe những điều tuyệt diệu qua cửa sổ. Cô y tá cho biết rằng người đàn ông đó bị mù và thậm chí ông ta cũng ko thấy được bức tường nữa. Cô nói : “Nhưng ông ta muốn khuyến khích ông can đảm lên”. Có những hạnh phúc vô biên khi mang lại hạnh phúc cho người khác bất chấp hòan cảnh riêng của mình. Nỗi khổ được chia sẻ sẽ vơi nửa, nhưng hạnh phúc được chia sẻ sẽ nhân đôi.

 

 

Sao 3 hôm nay, khi check mail từ multiply lại bị như thế nảy nhỉ ?

Wednesday, 6 April 2011

Furniture and wood products - Directory of Manufacturers,Suppliers and Services in Vietnam

http://www.business-in-vietnam.net/vietnam/exportfurniture.html
http://www.business-in-vietnam.net/vietnam/exportfurniture.html - Furniture and wood products - Directory of Manufacturers,Suppliers and Services in Vietnam

379.Lần Theo Mê Lộ Có Đường Hầm Của Hệ Thống Tiền Tệ Mỹ

BS Nguyễn Lưu Viên
Cả năm qua báo chí Mỹ thường hay nói tới việc mất giá của đồng dollar, tới việc mắc nợ của chánh phủ Mỹ, rồi hay nhắc tới Federal Reserve, và tới tên của Ông Greenspan. Tôi không có học ÉcoPo của Pháp, không có học MBA của Mỹ nên mù tịt. Nhưng vì tò mò muốn hiểu biết, nên tôi đã cố gắng tìm tòi, học hỏi đó đây. Thì mới thấy rằng vấn đề tiền tệ của Mỹ là cả một mê lộ có đường hầm, [un vrai labyrinthe avec des souterrains] một con đường máng dện chằng chịt mà nếu đi không có bản chỉ dẫn thì sẽ dể bị lạc.


Rồi tôi nghĩ rằng trong số độc giả của Y Tế Nguyệt San chắc cũng có một ít bạn đọc mù tịt như tôi, nhưng không có thì giờ để nghiên cứu đó đây như tôi, nên tôi viết bài này tóm lược và giản dị  hoá tối đa một vấn đề vô cùng phức tạp đã kéo dài theo lịch sử của Hoa Kỳ, để giúp phần nào các bạn ấy hiểu sơ sơ vấn đề về đồng dollar là một thực thể mà mình phải đ6í phó hằng ngày. Tôi sẽ dùng phương pháp hõi và đáp [H & Đ] để dẫn đường quý bạn đi trên mê lộ và trong đường hầm ấy.

Tôi xin lưu ý quý bạn : Vì trong bài có vài ba cụm từ được nhắc đi nhắc lại nhiều lần nên tôi sẽ viết tắt các cụm từ ấy như sau : FED là Federal Reserve, CPLB là Chánh Phủ Liên Bang, HCQHK là Hiệp Chũng Quốc Hoa Kỳ USA và TT là Tổng Thống.

I - Tạo ra tiền [create money].

Hỏi : Dollar là tiền chính thức của HCQHK. Vậy ở bên Mỹ cơ quan nào có quuyền phát hành dollar ?

Đáp : Câu trả lời tự nhiên và thông thường mà cũng hợp lý là Bộ Tài Chánh của CPLB. Nhưng trên thực tế thì không hẳn như vậy. Bộ Tài Chánh của CPLB chỉ có quyền phát hành "coins" nghĩa là đúc [mint] các dồng tiền One Cent, Five Cents, One Dime, One Quarter, và một số đồng tiền One Dollar.

Hỏi : Vậy thì cơ quan nào có quyền phát hành giấy xanh dollar ?

Đáp : Chỉ có Federal Reserve [FED] mới có quyền phát hành giấy xanh dollar.

Hỏi : Tôi thấy trên giấy xanh dollar nào cũng có hình của một ông Tổng Thống Mỹ, cũng có chữ ký tên của "Treasurer of the United States", và của "Secretary of the Treasury" mà không phải do Department of Treasury của CPLB phát hành là gì ?

Đáp : Vâng, coi vậy mà không phải vậy. Trên giấy xanh dollar nào cũng có in hàng chữ "Federal Reserve Note" mà chữ note ở đây có nghĩa là "a paper acknowledging a debt and promising payment ; promissory note". Tức là tờ giấy xanh dollar nào cũng là một tờ giấy nợ.

Hỏi : Ai nợ ai ?

Đáp : Chánh Phủ Liên Bang nợ FED.

Hỏi : Sao lại có chuyện đó ?

Đáp : Số tiên CPLB cần luôn luôn nhiều hơn số tiền thuế của dân đóng góp, nên CPLB phải mượn. Mượn ai ? Mượn FED là cơ quan duy nhứt có quyền phát hành tiền dollar. Mượn bằng cách nào ? Bằng cách cho phép Bộ Tài Chánh [The Treasury Department] in giấy nợ dưới hình thức "Federal Bonds" [là giấy IOU (I Owe You) trong đó chánh phủ cam kết sẽ trả lại với tiền lời] [mà bách phân lời (% interest) là do FED. chủ nợ, quyết định]. FED chấp nhận và in [thí dụ như một tỷ dollars $1 billion] đưa cho chánh phủ. Thế là chánh phủ /[tức là quốc gia, là dân Mỹ] nợ FED một tỷ dollars với tiền lời. Rồi mỗi năm tiền nợ đó chồng chất lên nên đến năm 1995 số tiền nợ là $5 trillion [1 trillion là 1 ngàn tỷ] và đến ngày 16/03/2006 là hơn $8,21 trillion.

Hỏi : FED là một cơ quan của Liên Bang, vậy CPLB mà nợ FED thì có khác gì là "Tôi Nợ Tôi".

Đáp : Khác, vì FED là một cơ quan mang tên là "Liên Bang" [Federal] nhưng không phải của Liên Bang. FED là một công ty độc lập của tư nhân [a corporation independent privately owned].

Hỏi : Privately owned thì ai own nó ?

Đáp : Federal Reserve [FED] gồm có 12 cái Fed Bank địa phương [twelve regional federal reserve banks] mỗi cái là sở hữu của những nhà bank buôn bán tư thành viên của cái Fed địa phương đó. Các Fed địa phương có trụ sở ở : 1 - Boston, 2 - New York, 3 - Philadelphia, 4 - Cleveland, 5 - St Louis, 6 - San Francisco, 7 - Richmond, 8 - Atlanta, 9 - Chicago, 10 - Minneapolis, 11- Kansas City và 12 - Dallas.

Fed Bank của New York có đa số cổ phần [53 % of shares]. Mà trong Fed Bank của New York, Citibank và J.P.Morgan Chase Co nắm đa số cổ phần. Citibank là của gia đình Rockefeller và JP Morgan Chase Co là của gia đình Morgan. Hai gia đình này và gia đình Carnegie với gia đình Rothschild là thành phấn quan trọng nhứt của một nhóm người mà hoc giả Mỹ gọi là "the Robber Barons" [những Nam tước Trộm Cắp].

Hỏi : Nhưng trong Ban Quản Trị [Board] của FED ở Washington có Ông Tổng Trưởng Tài Chánh [the Treasury Secretary] và Ông Giám Sát Ngân Khố [the Comptroller of Treasury] là nhân viên chánh phủ.

Đáp : Vâng, vì vậy mà trên các giấy xanh dollar có chữ ký tên của 2 ông này. Và TT Mỹ cũng bổ nhiệm [với sự chấp thuận của Senate] ông Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị [Chairman of The Governing Board] của FED, cho nên FED được coi như là một cơ quan "gần như chính thức" [quasi governmental]. Hội Đồng này gồm có 7 người, với nhiệm kỳ là 14 năm, mà Tổng Thống chỉ có quyền thay thế một người mỗi hai năm.

Như vậy, thí dụ như có một ông TT muốn sữa đổi FED theo ý của ông, thì trong nhiệm kỳ 4 năm của TT, ông chỉ thay thế được có 2 người [vì ông chỉ có quyền thay thế 1 người mỗi 2 năm]. Thôi thì cho rằng ông ấy là một ông TT tài ba lổi lạc, vượt qua được những khó khăn và những chống đối mà ông đã gây ra [vì quan niệm muốn sửa đổi FED], trong hàng ngũ dân biểu và nghị sĩ của cả 2 đảng, trong chính trường và trong media, để ông được đắc cử một nhiệm kỳ thứ 2, thì ông sẽ bổ nhiệm được 2 người nữa trong Governing Board (nếu được the Senate chấp thuận) thì cho đến gần cuối nhiệm kỳ 2, ông mới đưa ra được một dự luật sữa đổi, mà chưa chắc dự luật ấy sẽ có được số phiếu cần thiết ở 2 viện để trở thành một đạo luật trước khi ông phải rời khỏi Nhà Trắng.

Mặt khác ban Quản Trị [Board] không kiểm soát được cả 12 Fed Bank địa phương và các Fed Bank địa phương phải theo chánh sách của Fed Bank New York nắm đa số cổ phần. Vã lại FED kể từ khi thành lập cho tới nay, chưa bao giờ bị chánh phủ "audit" [soát xét] vì năm 1975 dự luật [bill] HR 4316 cho phép chánh phủ "audit" FED, được đưa ra Congress, nhưng dự luật không qua được vì không đủ phiếu.

Hãy xem như ông Alan Greenspan đang làm giám đốc công ty [corporate director] cho JP Morgan, thì được TT Reagan bổ nhiệm năm 1987 làm Chủ Tịch của FED, giử chức đó gần 19 năm, đến năm 2006 dưới thời TT George W Bush mới về hưu. Nghĩa là đã làm Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị FED với 4 TT. Mà trong lúc tại chức Ông không bao giờ có họp báo, không bao giờ cho phỏng vấn, tức là không có việc hỏi han chất vấn lôi thôi.

Hỏi : Trở lại đồng dollar. Bây giờ tôi mới biết rằng CPLB chỉ có quyền đúc coins, còn quyền phát hành giấy xanh là của FED, mà FED thì bị các nhà bank tư nắm. Vậy trong tổng số tiền của Mỹ, tỹ lệ của mổi thứ tiền là bao nhiêu ?

Đáp : Tiền coin của CPLB đúc chỉ là lối một phần ngàn tổng số tiền của Mỹ, cộng với tổng số tiền giấy xanh của FED phát hành, thành ra cái được gọi là "tiền sờ thấy được" [tangible currency] chỉ có lối 10 % tổng số tiền được cung cấp [American Money Supply]

Hỏi : Sao kỳ vậy ? Còn 90 % kia là tiền gì ở đâu ra ?

Đáp : Phần 90 % còn lại là tiền ma [phantom money].

Hỏi : Tiền ma là tiền gì ?

Đáp : Là tiền không có thật, là tiền được tạo ra từ chổ không có gì hết [money created from nothing], do cái trò ảo thuật cho vay [gọi là "loan"] tạo ra.

Hỏi : Thật sự tôi không hiểu được.

Đáp : Thực ra thì cũng không có gì khó hiểu cho lắm. Trò ảo thuật tạo ra tiền từ con số không [create money out of nothing] dựa trên cái gọi là "fractional reserve banking" do đạo luật tạo ra FED [Federal Reserve Act] cho phép. Theo đó thì khi mà nhà bank có trong kho của nó một số tiền X là tiền thật [hồi xưa là vàng, bây giờ là giấy xanh] được coi như là để dự trữ [reserve], thì nó có quyền phát ra 10 X [tức là có 9 X tiền ma, không có bảo đảm reserve].

hí dụ như tôi gởi vào nhà bank trong checking account của tôi $ 10,000 thì nhà bank để số tiền đó trong kho của nó như reserve, và nó có quyền phát ra $100000 [tức là trong đó có $ 90000 là tiền ma, vì không có reserve bảo đảm] Cũng như thế, Anh B để vào bank trong saving account $ 20000, thì nhà bank có quyền phát ra $200000 [tức có $180000 là tiền ma]. Tổng cộng nhà bank có quyền phát ra $300000 mà trong đó có $270000 là tiền ma. Rồi khi Anh C đến mượn nhà bank $300000 [để mua nhà, sửa nhà hay làm gì khác] thì nhà bank cho ảnh mượn [dưới hình thức loan] $300000 đó. Anh C sẽ trả cho nhà bank số tiền đó cộng với lời [x %] dưới hình thức mortgage hằng tháng, trong 15 hoặc 30 năm chẳng hạn, bằng tiền dollar thật, mà Anh C có được nhờ lương của Anh C, hoặc nhờ việc làm [như phòng mạch] của Anh. Tức là nhà bank, nhờ cái ảo thuật của "loan" đã "create money out of nothing".

Thí dụ trên là lấy cá nhân A, B, C làm mẫu, nên chỉ nói tới tiền với con số ngàn, nếu là nhà buôn, là nhà hàng, là hãng, là cơ sở sản xuất, thì tiền phải là tới số triệu. Mà cả HCQHK có hằng bao nhiêu triệu cá nhân, nhà buôn, hãng, xưởng ... cân tiền và phải vay tiền của nhà bank dưới hình thức "loan" thì không có gì lạ khi thấy rằng trong tổng số tiền cung cấp cho nền kinh tế Mỹ [american money supply] năm 2005 là $9,7 trillion trong đó tiền thật [tangible currency] chỉ có $ 1,4 trillion, còn $8,3 trillion là tiền ma. Và sau này nguyên tắc đó cũng được áp dụng cho việc dùng credit card [Visa, Master Card, American Express ...] với một lải xụất [% interest] còn cao hơn gấp bội.

II- Một chút lịch sử.

Hỏi : Từ đâu, tại sao, và từ hồi nào mới có cái quái thai đó ?

Đáp : Anh nói là "quái thai" thì cũng đúng, nhưng học giả Mỹ thường ví FED như một con "Hydra". Theo từ điển Hydra là một con rắn có chín đầu [trong thần thoại] hể chặt đầu này thì nó mọc đầu khác, và nó có nhiều cái vòi [tentacles] rất dài để bắt mồi từ xa. FED [con hydra dưới hình thức hiện tại] sanh ra nhờ cái Federal Reserve Act năm 1913 do Tổng Thống Woodrow Wilson ký [về sau ông hối tiếc]. Còn từ đâu và tại sao có nó, thì phải xem lại hết cái lịch sử của HCQHK vì trong dĩ vãng nó cũng đã bị chặt đầu nhiều lần, mổi lần lại sống lại với một tên khác.

Hỏi : Anh có thể tóm tắt cho chúng tôi biết một chút không ?

Đáp : Tôi sẽ cố gắng tóm lược tối đa một câu chuyện dài mấy thế kỷ và chiếm vài trăm trang trong mỗi sách nói đến chuyện ấy mà tôi có dịp đọc.

Ở Trung Học chúng ta học trong sách rằng HCQHK hồi xưa là 13 thuộc địa của Anh Quốc. Đến năm 1774, để phản đối việc mẫu quốc Anh đánh thuế vào trà [tea tax] một buổi tiệc trà được tổ chức ở Boston [Boston Tea Party]. Trong dịp đó một số người Mỹ giả làm người Da Đỏ nhảy lên tàu chở trà và vất các thùng trà xuống biển. Bị chánh quyền cai trị đàn áp, những đoàn dân quân được thành lập để chống trả lại, và Ông Benjamin Franklin triệu tập một Hội Nghị gọi là Congress ở Philadelphia để đưa ra "Bản Tuyên Ngôn Quyền Của Người Mỹ Có Đóng Thuế" [Delaration des Droits du Contribuable Americain] năm 1774. Sau đó, với sự chiến thắng của đoàn dân quân của Massachusetts, Congress cho ra Bản Tuyên Ngôn Độc Lập [Déclaration d'Indépendance ngày 04/07/1776.] Rồi dưới sự chỉ huy của Tướng George Washington, quân Mỹ đánh thắng quân Anh dưới quyền Tướng Cornallis ở Georgetown năm 1781, và theo Hoà Ước Versailles năm 1785 Anh Quốc công nhận cho HCQHK độc lập.

Nhưng sau này một số học giả, sau khi đọc kỹ lại những tác phẩm của chính ông Benjamin Franklin viết hồi thời ấy, mới thấy là sự thật phức tạp hơn nhiều.

1 - Vì không có tiền vàng hay bạc, nên kể từ năm 1691, các thuộc địa của Anh trên đất Mỹ phát hành tiền giấy gọi là "Colonial Scrip" để trả lương cho công chức và để cho dân xài trong việc mua bán trao đổi hàng hoá trả tiền công ... Mà người chủ nhà in lại chính là Ông Benjamin Franklin, người làm việc cho dân, vì dân, không tìm cái lời cái lợi trong việc in giấy bạc nên chỉ phát hành đúng theo nhu cầu, cần bao nhiêu thì phát hành bấy nhiêu, nên không cần lấy thuế của dân để chánh phủ có tiền, mà không tạo ra sự lạm phát [inflation] hay sự kém phát [deflation] nên giá vật và giá công [product and service] vẫn được đều hoà và thăng bằng Nhờ vậy mà các thuộc địa trở nên rất phồn thịnh, không có thất nghiệp, không có ăn mày, trong lúc mà ở London của mẫu quốc ngoài đường có đầy ăn mày và người đi lang thang lêu lổng [The streets are covered with beggars and tramps]. Thì các chủ nhà bank Anh [the British bankers] lobby triều đình, nên năm 1751, vua George II ra lệnh cấm các thuộc địa phát hành tiền giấy, mà phải dùng tiền "coins" của mẫu quốc [do các nhà bank Anh đã hợp thành một thể dưới tên là Bank of England phát hành]. Vua George III kế vị vua cha từ năm 1752 giữ nguyên lệnh ấy. Thì các thuộc địa bị ảnh hưởng tai hại. Vì thiếu tiền coins [do mẫu quốc siết để tạo sự kém phát deflation], người làm ruộng hay trồng tỉa không có đủ tiền mướn người làm nên lúa không ai gặt, trái không ai hái. Người có hảng xưởng không đủ tiền mướn thợ, hàng hoá không được sản xuất. Cả dân trong một vùng đất rộng lớn của 13 thuộc địa bị nghèo đói không gia đình nào không bị ảnh hưởng, nên họ đứng lên chống đối chánh quyền và đó là nguyên do sâu xa của cuộc Cách Mạng Mỹ năm 1774. Cái "Boston Tea Party" chỉ là giọt nước làm tràn cái bình.

2 - Việc đầu tiên Congress làm là phát hành tiền giấy được gọi là "the Continental" dưới hình thức IOU [I owe you.] nghĩa là giấy nợ mà Chánh Phủ Cách Mạng cam kết sẽ trả lại bằng tiền coins [vàng hay bạc] sau này. Lối chừng 200 triệu dollars dưới hình thức "continental scrip" được phát hành để chi phí cho cuộc chiến giành độc lập. Thì mẫu quốc phản ứng bằng cách in tiền giả để đổ ào ạt vào thị trường các thuộc địa, gây ra môt cuộc đại lạm phát, làm cho đến ngày Độc Lập tiền "the Continental" hầu như không còn giá trị gì hết. Thế là mẫu quốc thua trên chiến trường, nhưng thắng trên mặt trận kinh tế [dính liền với tài chánh].

3 - Vì thấy tiền Continental gần như không còn giá trị, nên các nhà "Quốc Phụ Lập Quốc [the Founding Fathers], không còn tin tưởng nơi giấy bạc, nên trong Hiến Pháp được viết ra, các ngài không nói tới tiền giấy mà ghi rằng Congress có quyền phát hành "coin money" [thay vì "create money"] và có quyền vay tiền dựa trên uy tín của chánh phủ ["and to borrow money on the credit of the United States]. Thì các nhà bank của mẫu quốc Anh củ, là các ngân hàng Anh Quốc tư nhân, xâm nhập vào HCQHK tạo dựng US Bank theo mẫu của England Bank. Mà England Bank từ thời thành lập cho đến ngày hôm nay là do các nhóm tài phiệt tư nhân gốc gác Hoà Lan [Amsterdam] nắm và chính các nhóm này xâm nhập vào hệ thống US Bank, khai thác lỗ hở to tát đó [the enormous loophole] mà nói rằng chiếu theo Hiến Pháp chánh phủ chỉ có quyền phát hành coins, và nhà bank có quyền phát hành tiền giấy. Vì tiền coins thì cồng kềnh và quá nặng khi cần tới nhiều, nên nhà bank in giấy cam két sẽ trả lại đúng số coins [bằng vàng hay bạc] ghi trên giấy, thì dân chấp nhận coi những giấy ấy như là tiền.

4 - Rồi với thời gian qua, các nhà bank để ý rằng rất ít người trở lại nhà bank để đòi lấy lại đồng tiền coins. Trung bình hằng năm chỉ có độ 10 % người làm việc đó, còn 90 % người còn lại thì không bao giờ thấy đến đòi lấy lại tiền coins. Thì nhà bank nghĩ rằng mình có thể phát hành thêm 90 % nữa mà không sao. Đó là nguồn gốc của cái gọi là "fractional reserve" dẫn tới việc phát hành tiền ma.

5 - Tổng Thống Thomas Jefferson (1801-1809) vị TT thứ 3 của Mỹ thấy cái nguy hại cho đất nước và gọi liên đoàn các nhà bank [the banking cartel] là "một con quái vật ăn thịt ngưởi có cái đầu của con hydra" và Ông nói rằng "Nếu dân Mỹ để cho nhà bank kiểm soát việc phát hành tiền tệ của mình, thì trước hết bằng sự lạm phát [inflation] rồi bằng sự kém phát [deflation] các nhà bank và các công ty [corrporations] sẽ phát triển và tước đoạt hết tài sản của dân, thì con cháu chúng ta sẽ thức dậy vô gia cư, trên cái lục địa mà cha mẹ của chúng đã chiếm được". Nên năm 1811 Congress không chấp nhận tái ban cho đặc quyền [renew the charter] cho First US Bank. Thì chiến tranh với Anh Quốc [the War of 1812] bùng nổ. Chiến tranh đưa quốc gia đến sự lạm phát [inflation] và nợ nần [debt]. Vì những lý do đó, Tổng Thống James Madison (1809-1817) vị TT thứ 4 của Mỹ, phải ký một đặc quyền 20 năm [a twenty year charter] cho Second Bank of The United States vào năm 1816.

6 - Tổng Thống Andrew Jackson (1829-1837) vị TT thứ 7 của Mỹ veto dự luật của Congress cho phép tiếp tục ban đặc quyền cho Second Bank of the United States. Trong bản veto Ông viết : "Không có cái gì nguy hại cho sự tự do và độc lập của chúng ta hơn là khi mà hệ thống nhà bank nằm trong tay của người ngoại quốc. Kiểm soát tiền tệ của chúng ta, lấy tiền của dân ta, và bắt giữ cả ngàn công dân của chúng ta phải lệ thuộc, thì còn đáng sợ hơn và nguy hiểm hơn là một thuỷ binh hay một quân đội của địch".

Nhưng Ông cũng biết cái veto chỉ là bước đầu của cuộc chiến với nhà bank nên Ông nói : "Con hydra của sự đồi bại mới bị chận lại chớ chưa chết". Ông ra lệnh cho Ông Tổng Trưởng Tài Chánh [Treasury Secretary] mới của Ông, chuyển hết tiền deposits của chánh phủ từ Second US Bank qua các nhà bank của Tiểu Bang [state banks] thì ông này từ chối không làm. Ông TT cách chức ông ấy, và bổ nhiệm một người khác. Ông này cũng từ chối không làm thì TT Jackson bổ nhiệm người thứ 3, Ông này thi hành lệnh nên TT Jackson vui mừng mà nói : "Tôi đã trói được con quái vật rồi". Nhưng ông chủ nhà Bank, lobby được Senat không chấp thuận người được Tổng Thống bổ nhiệm và gây ra một cuộc khủng hoảng kinh tế với việc siết chặt sự cung cấp tiền, để tạo ra một sự kém phát [deflation] bằng cách hồi [call in] các "loan" cũ, không cho thêm "loan" mới, nên một sự hoảng hốt tài chánh [a financial panic] xẩy ra trong dân chúng, thì báo chí lại đổ tội vào đầu Tổng Thống Jackson. Nhưng may thay Ông Governor của Pennsylvania [là nơi có trụ sở của nhà bank] xuất hiện để ủng hộ TT Jackson và phê bình nhà bank rất gắt gao và kế hoạch làm lũng đọan kinh tế của nhà bank bị phơi bày trước công chúng.

Cho nên đến tháng 04/1834 Hạ Viện [House of Representatives] với 134 phiếu thuân và 82 phiếu chống, đã huỷ bỏ việc tái ban đặc quyền [rechartering] cho Second US Bank. Đến tháng 01/1835 thì TT Jackson trả được hết các nợ của chánh phủ. Rồi ngày 30/01/1835, khi TT Jackson đến Capitol để dự tang lể của Dân biểu Warren R Davis của South Carolina thì ông bị mưu sát bởi một tên thợ sơn "điên" (?) núp trong rotunda cách Ông có 6 feet bắn 2 phát đều trật. Nhưng sau khi TT Jackson đóng cửa nhà bank trung ương [Central Bank] thì tiền giấy được dùng là những banknotes của của các nhà banks tư của các Tiểu Bang, hứa sẽ trả lại bằng vàng hay bạc chớ không phải là tiền của quốc gia [national currency].

7 - Sau TT Jackson, ông tổng thống dám đánh con hydra tiền tệ là TT Abraham Lincoln (1861-1865), vị TT thứ 16 của Mỹ. Liền sau khi Ông đắc cử và trước khi Ông nhậm chức thì Nội Chiến Nam Bắc [The Civil War] bùng nổ (1860) vì vấn đề "Nô Lệ" [Slavery]. Các nhà bank của vủng Đông [tức là thuộc về Union] đề nghị cho chánh phủ vay $150 triệu với bách phân lời quá nặng từ 24 tới 26 %. TT Lincoln từ chối và quyết định chánh phủ sẽ in tiền lấy. Tiền in ra có tên chính thức là "United Note' nhưng dân chúng quen gọi là "Greenback" vì phía sau in bằng mực màu xanh lá cây. Tiền được quan niệm không phải là một giấy nợ [IOU] với cam kết trả lại bằng vàng hay bạc, mà là một tờ giấy chứng nhận công lao cho xã hội. Công lao sản xuất [product] từ lúa gạo, trái cây cho tới vải sồ và vật dụng, công lao dịch vụ [service] từ thợ, cai, đến giám đốc, công lao bảo vệ an ninh trật tự, và gìn giữ đất nước, từ lính cảnh sát đến lính và quan trong quân đội, công lao điều khiển bộ máy cai trị, từ thơ ký đến giam đốc đến nguyên thủ quốc gia. Lãnh lương là lãnh giấy chứng nhận công lao, để mua thức ăn đồ dùng là trao giấy chứng nhận công lao của mình để nhận lấy món hàng được sản xuất với công lao tương đương của người bán.

Vì tiền được in ra vừa đúng nhu cầu của dân, cho dân, và vì dân, chớ không phải cho hay vì tư lợi nào hết, cũng như hồi thời Ông Benjamin Franklin lúc Hoa Kỳ còn là 13 thuôc địa phồn thịnh, nên trong có bốn năm tại chức mà ngoài việc chiến thắng lọan Miền Nam được Anh giúp tiền, và việc giải phóng bốn triệu người nô lệ, TT Lincoln đã thực hiện cho nước Mỹ những công tác vĩ đại như : xây dựng và võ trang một quân đội lớn nhứt thế giới lúc bấy giờ, biến Hoa Kỳ thành một nước kỹ nghệ khổng lồ [industrial giant], kỹ nghệ thép [steel industry] được thành lập, một hệ thống hoả xa xuyên luc địa được xây dựng, Bộ Canh Nông được thành lập để thúc đẩy viêc chế tạo máy và dụng cụ làm ruộng rẻ tiền, một hệ thống đại học miễn phí được thành lập nhờ Land Grant College System, lập lên những bộ máy hành chánh cho các vùng Miền Tây, tăng mức sản xuất lao động [labor productivity] lên từ 50 đến 75 %. Tất cả những viêc ấy thục hiện được là nhờ có một việc rất giản dị là chính chánh phủ phát hành tiền. Tức là cái đầu của con hydra tiền tệ đã bị TT Lincoln chặt.

Nhưng đến ngày 14/04/1865, thì một kịch sĩ tên là John Wilkes Booth ám sát TT Lincoln trong lúc Ông đang xem tuồng hát Our American Cousin trong rạp hát Ford's Theatre ở Washington. Thế là con hydra lại có cơ mọc đầu lại. Và đầu nó mọc lại thật, vì dân vẩn thích có tiền vàng nên tiền greenback mất giá dần dần đối với đồng tiền dollar vàng. Thì các nhà bank phát hành banknotes bảo đảm trả lại bằng vàng. Dân chúng tin nên dùng những banknotes đó như tiền thật, cho tới năm 1913 thì một con hydra mới xuất hiện nhờ luật Federal Reserve Act 1913.

III - Tân hydra chào đời.

Hỏi : Tại sao có Luật đó ?

Đáp : Vì năm 1907 xẩy ra một cuộc "Kinh Khủmg Tài Chánh" [a Financial Panic] nên năm 1908 TT Theodore Roosevelt (1901-1909), vị TT thứ 26 của Mỹ, cho thành lập cái National Monetary Commission để chỉnh đốn vấn đề tài chánh. Chủ Tịch của Commission đó là Ông Nghị Sĩ Nelson Aldrich [bên ngoại của David Rockefeller Sr.]. Ông Aldrich dẫn cả commission đi tour sang Âu châu để nghiên cứu trong vòng hai năm. Rồi khi trở về, Ông lập lên, một cách hoàn toàn bí mật, một nhóm bị gọi là "The First Name Club" vì cấm triệt để không được nhắc tới Last Name để cho đầy tớ và người làm, dù có nghe trộm được cũng không biết là ai, để nói lại cho người ngoài và báo chí biết là có những ai. Nhóm đó gồm có một số người được chọn lọc rất cẩn thận trong giới tài chánh và ngân hàng. Trong số đó người sẽ đống vai quan trọng nhất là Ông Paul Warburg (1868-1932) người gốc Đức di cư sang Mỹ năm 1904, được quốc tịch Mỹ năm 1911, và là thành viên của ngân hàng Kuhn, Loeb and Company Bankers ở New York [thuộc vào tài sản của Rothschild].

"First Name Club" được triệu tâp đến một hòn đảo nhỏ bé, riêng biệt và vắng vẻ có tên là đảo Jekyll Island, ở Georgia, hợp trong chín ngày liên tiếp, để viết một dự luật cải tổ hệ thống nhà bank và luật pháp tiền tệ [the banking and currency legislation] sẽ trình cho Congress.

Hỏi : Trong dự luật có cái gì là đặc biệt ?

Đáp : Có rất nhiều cái đặc biệt. Trước hết là cái tên : vì dân đã quá ghét. nên phải tránh cho kỳ được cụm từ "Central Bank " rồi phải làm sao cho dân tưởng rằng cơ quan này là của chánh phủ, do nhân viên chánh phủ điều khiển vì vậy mà có danh từ "Federal" và "Reserve" [chớ không phải là Central Bank] và có Governing Board mà ông Chủ Tịch là do TT bổ nhiệm, và trong đó có 2 nhân viên chánh phủ, mà trong thực tế thì Governing Board không có điều khiển được chánh sách của cơ quan. Rồi phải dùng những danh từ mờ ám khó hiểu để che giấu thực ý : như trong Lời Mở Đầu [Preamble] của dự luật nói : Mục đích của luật là để cho FED có thể "cung cấp một thứ tiền co dãn" [to furnish an elastic currency] nghĩa là gì ?

Trong thực tế nghĩa là tiền mà nhà bank đã có thì nhà bank có thể, tuỳ nghi, thổi phồng lên. Rồi như danh từ "tái chiết khấu "[rediscounting] nghỉa là gì ? Trong thực tế nghĩa là : một kỹ thuật cho phép nhà bank dùng để tăng gia tiền hiện có trong quỹ của nó, bằng cách cho vay thêm mà không cần chờ cho tới khi các loan trước hết hạn. Kết quả là Luật cho phép một nhà bank trung ương tư [a private central bank] tạo ra tiền từ chô không có gì hết [create money out of nothing] rồi cho chánh phủ vay số tiền đó để lấy lời và kiểm soát sự cung cấp tiền cho quốc gia bằng cách bôm phòng nó lên hay hút bớt nó xuống tuỳ theo ý muốn [control the national money supply, expanding or contracting it at will].

Hỏi : Thế mà không có Ông Nghị sĩ hay Dân biểu nào thấy sao ?

Đáp : Có chớ. một số thấy và la làng lên .Như ở Hạ Viện Dân Biểu Charles Lindbergh Sr. [bố của phi công trứ danh Lindbergh] nói : "Luật tạo ra FED là một cái tội pháp luật tệ hại nhứt của mọi thời đại. Hệ thống tài chánh đã bị lật lại cho một nhóm người chỉ có biết lợi dụng. Hệ thống là của tư nhân, được hướng dẫn về mục tiêu duy nhứt là lấy cho được những cái lợi tối đa từ việc xử dụng tiền của người khác ".

Và cũng còn một số dân biểu và nghị sĩ khác nữa la làng lên nhưng họ không đủ để đánh bại số dân biểu và nghị sĩ đã bị mua chuộc, đúng như lời của một người trong nhóm Rothschild ở London nói với một hội viên của nhà bank ở New York ngày 25/06/1863 rằng : "Số nhỏ người hiểu cái hệ thống là gì, thì, hoặc là vì thấy có lợi cho mình, hoặc là vì đã tuỳ thuộc vào những ân huệ đang được hưởng, nên sẽ không có sự chống đối từ những hạng người đó. Còn nhóm đa số người không có đủ trí khôn để hiểu, thì sẽ chịu cái gánh nặng mà không than phiền"

Bởi vậy cho nên ngày 18/09/1913, dự luật được Hạ Viện chấp thuận với 287 phiếu thuận và 85 phiếu chống, rồi lên Thượng Viện thì ngày 19/12/1913, dự luật được chấp thuận với nhiều sửa đổi bằng 54 phiếu thuận và 34 phiếu chống. Đến đây lại có một việc lạ nhứt chưa bao giờ xẩy ra trong lịch sử của HCQHK, là trong cái bản văn của dự luật ở Hạ Viện có cho tới 40 điểm mà Thượng Viện không đồng ý nên đã sửa lại. Thì sau khi Thượng Viên biểu quyết, 2 Viện phải ngồi chung lại để sữa lại sao cho cả 2 bên đều đồng ý. Thế mà việc đó được thực hiện chỉ có trong một weekend. Cho nên ngày Thứ Hai 22/12/1913 dự luật được biểu quyết ở Hạ Viện với 282 phiếu thuận và 60 phiếu chống rồi, cùng ngày, sang Thượng Viện được chấp thuận luôn với 43 phiếu thuận và 23 phiếu chống. Và TT Woodrow Wilson (1913-1921), vị TT thứ 28 của Mỹ, ký thành Luật ngày hôm sau Thứ Ba 23/12/1913.

Tất cả những việc ấy xẩy ra một cách hết sức mau lẹ và trái ngược với tục lệ và truyền thống của Quốc Hội và của Chánh Phủ Mỹ là không bao giờ Lập Pháp Congress [Thượng và Hạ Viện] thảo luận và biểu quyết một Dự Luật vào lúc gần Noel, để cho Congress "recess" [thường thường là kể từ 15, 17/12] và các Nghị Sĩ và Dân Biểu về quê của mình ăn mừng Christmas và New Year, và không bao giờ Hành Pháp [Chánh Phủ] ký một Đạo Luật vào Noel để cho TT về nhà riêng hay "ranch" của mình ăn mừng Christmas và New Year. Thế mà kỳ này Thượng Viẹn họp lại, thảo luận, và biểu quyết ngày Thứ Sáu 19/12. Rồi cả 2 viện làm việc với nhau weekend 20-21/12, để ngày Thứ Hai 22/12 cả hai Viện, họp lại, thảo luận và biểu quyết dự luật, và ngày Thứ Ba 23/12. TT ký thành Luật.

Dân Biểu Lindbergh nói ở Hạ Viện : "Dự luật này thành lâp cái "trust" khổng lồ nhất trên thế giới. Khi mà TT ký cái dự luật này (thành Luật), thì cái chánh phủ vô hình của Mãnh Lực Tiền Tệ sẽ được hợp pháp hoá. Dân chúng có thể không biết chuyện đó ngay, nhưng mà rồi sự biết được chuyện chỉ được dời lại vài năm sau mà thôi". Trong lúc đó thì báo chí [đã ở trong tay của "Mãnh Lưc Tiền Tệ"] thì ca tụng hết lời. Báo New York Times viết bằng chữ lớn ở trang đầu : "Tổng Thống Wilson ký Dự Luật Tiền Tệ. Sự phồn thịnh được tự do và sẽ giúp mọi giai cấp.

Hỏi : Thế là con hydra được khai sanh là đứa con hợp pháp của HCQHK để lớn lên với đất nước ?

Đáp : Hay đúng hơn thì phải nói "để lớn lên với đứa em song thai".

Hỏi : Nói gì lạ vây, đứa em song thai nào ?

Đáp : Khi nhóm của Nghị Sĩ Nelson Aldrich có Ông Paul Warburg chuẩn bị viết dự luật FED để trình cho Congress, họ đã tiên đoán rằng với sự áp dụng luật này thì CPLB sẽ mắc nợ FED càng ngày càng nhiều nên phải tím cách làm sao cho phép chánh phủ đánh thuế vào dân để có tiền trả nợ cho FED, thì họ kèm theo dự luật FED một Tu Chỉnh Hiến Pháp [là the Sixteenth Amendment] cho phép CPLB đánh thuế income tax vào dân. Lúc ấy bản văn của Tu Chỉnh chỉ có 1 trang giấy và nguyên Bộ Luật về thuế má chỉ có 14 trang mà bây giờ thì nó dày đến 17 ngàn trang, cũng như nợ của chánh phủ do FED gây ra lớn lên từ số không cho tới bây giờ là $8,5 trillion.

Hỏi : Bộ trước đó dân không phải đóng income tax cho CPLB sao ?

Đáp : Không, trước 1913, dân chỉ đóng thuế income cho Tiểu Bang của mình mà thôi.

Hỏi : Đã được hợp pháp hoá rồi, con hydra còn phá phách gì nữa không ?

Đáp : Nói là phá phách thì không hẳn là phá phách, nhưng khi được hợp pháp hoá rồi thì FED hoạt động tích cực hơn, nên gây tai nạn cho dân.

Hỏi : Tai nạn gì ?

Đáp : Cuộc Đại Khủng Hoảng [The Great Depression] năm 1930.

Hỏi : Bằng cách nào ?

Đáp : Bằng cách tạo ra tiền "out of nothing" qua trò ảo thuật "loan". Để khuyến khích dân vay tiền, nên FED hạ thấp bách phân lời [% interest] thì dân ùn ùn vay loan và loan để có tiền tiêu xài thả ga. Thì nhà bank thảy vào nền kinh tế quốc gia một số tiền khổng lồ, tạo ra một cuộc lạm phát [inflation]. Rồi nói là để kềm hảm sự lạm phát, thì lại siết chặt việc cung cấp tiền, thu hồi các loan đả phát ra, không cho vay loan mới, thì dân thiếu nợ phải vội vàng bán nhà cửa ruộng đất để trả nợ, nên những người có liên hệ với "Mãnh Lực Tiền Tệ [Monetary Power] có tiền mua những bất động sản ấy với giá rẻ mạt. Còn con cháu những người thiếu nợ thì trở nên vô gia cư vô nghề nghiệp đi lang thang thất thểu ngoài đường như hồi Mỹ còn là 13 thuộc địa dưới thời các vua George II và vua George III, trước ngày Cách Mạng Mỹ [American Revolution] năm 1774. Nhưng nhờ chánh sách "New Deal" của TT Franklin D Roosevelt (1933-1945) vị TT thứ 32 của Mỹ, và việc lập lên cái FDIC [Federal Deposit Insurance Corporation] mà tình thế trở lại yên ổn. Giáo sư Milton Friedman, Nobel Prize về kinh tế, viết : "Nhứt định là FED đã gây ra cuộc Đại Khủng Hoảng vì thu rút lại một phần ba [1/3] số tiền đang lưu hành từ năm 1929 tới năm 1930".

Còn Ông Louis T McFadden Chủ Tịch The House Banking and Currency Commttee, thì nói : "Cuộc khủng hoảng không phải là bất ngờ ngẫu nhiên mà là một việc được trù liệu rất cẩn thận … Những chủ nhà bank quốc tế tìm cách đem đến đây sự thất vọng để rồi họ có thể trở thành nhưng kẻ ra lệnh cho tất cả chúng ta".

Hỏi : Thế rồi kể từ đó không có Ông TT nào dám đụng tới FED nữa ?

Đáp : Có chớ, TT John F Kennedy, (1961-1963) vị TT thứ 35 của Mỹ. Ngày 04/06/1963 TT Kennedy ký 1 Hành Pháp Lệnh [an Executive Order số 11110] cho phép CPLB phát hành tiền mà không phải qua FED bằng cách cho phép Bộ Tài Chành The Treasury phát hành những giấy chứng nhận bạc đối với mọi thoi bạc, bạc, hay là mọi dollar dựa trên bản vị bạc của Bộ [the power to issue silver certificates against any silver bullion, silver or standard silver dollars in the Treasury]. Nghĩa là một khi Bộ Tài Chánh có trong kho một ounce bạc nào, thì Bộ có quyền phát hành ra một giấy bạc để lưu hành trong nền kinh tế. Như vậy TT Kennedy đã tung ra $4,3 tỷ dollars cho lưu hành. Thì Fed Bank của New York sẽ phá sản, vì dân chúng biết rằng các giấy chứng nhận bạc [silver certificates] của Chánh Phủ được bạc yểm trợ [backed by silver] chớ giấy bạc của FED [Federal Reserve Notes] không có cái gì yểm trợ hết. Lệnh số 11110 nói trên còn giúp chánh phủ trả hết nợ của mình mà không phải qua FED để trả tiền lời, do FED tạo ra tiền out of nothing. Tức là trên thực tế Lệnh sô 11110 cho CPLB quyền tạo ra tiền của mình có bạc yểm trợ, đúng theo Điều I, Phần 8 của Hiến Pháp Hoa Kỳ.

Năm tháng sau, ngày 22/11/1963, TT Kennedy bị tên Lee Harvey Oswald ám sát và 2 ngày sau tên này bị Jack Ruby (Rubenstein) giết chết trong Dallas Police Station.

Hỏi : Như thế thì phải chăng là một nhóm tài phiệt cai trị xứ này vì người ta hay nói : "Ai nắm được tiền là nắm được quyền" phải không ?

Đáp : Tôi không dám trả lời là phải hay là không [yes or no] vì tôi không đọc được sách nào nói rõ là đã có một toà án nào kết án một người nào trong giới Mãnh Lực Tiền Tệ [the Monetary Power] hay một vị nào trong nhóm những Nam Tước Trộm Cắp [the Robber Barons] về tội dùng tiền của mình mua được quyền thế. Cho nên tôi xin để cho quý bạn đọc mỗi người kết luận theo ý kiến của mình.

Tôi chỉ xin phép nhắc lại lời nói của Ông Nathan Rothschild hồi năm 1838 : "Để cho tôi phát hành và kiểm soát tiền của một quốc gia, thì tôi cóc cần biết ai viết luật pháp", và tôi cũng xin phép nhắc lại số phận của những vị Tổng Thống đã có gan dám chặt đầu con hydra tiền tệ : TT Andrew Jackson bị mưu sát, TT Abraham Lincoln và TT John F Kennedy bị ám sát.

Tfree countersài liệu được tham khảo :

The Web of Debt by Ellen Hodgson Brown, nxb Third Millennium, Baton Rouge, 2007 http://www.webofdebt.com
The Secrets of the Federal Reserve by Eustace Mullins nxb Bankers Research Institute Staunton, 1993
Modern Money Mechanics published by the Federal Reserve Bank of Chicago, now out of print : http://landru.i-link-2.net
The Federal Reserve is a privately owned corporation by Thomas D Schauf. 11/281998 in http://www.apfn.org/


BS Nguyễn Lưu Viên

Tuesday, 5 April 2011

378.Thuế lạm phát

Thuế lạm phát
Huỳnh Thế Du

Theo Tiasang.com.vn Khi lạm phát xảy ra, đồng tiền sẽ mất giá. Vậy phần mất đi của người nắm giữ tiền mặt sẽ đi đâu? Câu trả lời đơn giản là vào “túi” của Nhà nước thông qua “thuế lạm phát”.

Với cùng một lượng tiền mặt như nhau nhưng khi lạm phát xảy ra, sau một thời gian người giữ tiền sẽ mua được ít hàng hóa hơn. Ví dụ, với mức giá tăng đến 17,96% trong năm 2010 và giả sử 1kg lương thực có giá 10 nghìn đồng vào đầu năm thì 100 nghìn đồng sẽ mua được 10kg, nhưng cuối năm chỉ còn 8,5kg. Tính bình quân trong năm 2010, những người giữ tiền mặt đã mất 11,75% giá trị tài sản của mình khi so với rổ hàng hóa chung của cả nền kinh tế.

Phần mất đi của người nắm giữ tiền mặt sẽ đi đâu? Câu trả lời đơn giản là vào “túi” của Nhà nước thông qua “thuế lạm phát”.

Lạm phát được định nghĩa là mức tăng giá chung của nền kinh tế mà nguyên nhân chính của nó là lượng tiền tăng cao hơn lượng hàng hóa sau một thời gian. Hiểu một cách đơn giản, năm ngoái trong nền kinh tế có 100 đồng và 100 đơn vị hàng hóa thì giá cả sẽ là 1 đồng/hàng hóa. Năm nay do Chính phủ in thêm tiền nên trong nền kinh tế có thêm 10 đồng và tổng số tiền sẽ là 110 đồng. Với giả sử số hàng hóa vẫn không thay đổi thì giá của một hàng hóa sẽ là 1,1 đồng hay tăng 10%.

Bằng việc in tiền để mua hàng hóa trong nền kinh tế của mình, Nhà nước đã làm giảm giá trị (sức mua) của lượng tiền đang có. Một cách gián tiếp Nhà nước đã đánh thuế lên những người nắm giữ tiền mặt. Đây chính là thuế lạm phát.

Thuế lạm phát là thứ thuế mà hầu như nước nào cũng có, nhưng nó có tính lũy thoái mà hiểu một cách đơn giản người có thu nhập thấp hơn phải chịu mức thuế suất cao hơn.

Ví dụ một người có thu nhập 1 triệu đồng phải đóng thuế 200 nghìn chắc chắn thấp hơn số thuế 1 triệu đồng của người có thu nhập 10 triệu đồng. Tuy nhiên, trong trường hợp này, người có thu nhập thấp hơn phải chịu thuế suất gấp đôi (20% so với 10%) người có thu nhập cao. Điều này ngược với nguyên tắc công bằng dọc trong thuế khóa, người có khả năng thấp hơn phải chịu mức thuế thấp hơn.

Nguyên nhân gây ra tính lũy thoái của thuế lạm phát là do việc tăng giá trong nền kinh tế theo khuynh hướng các mặt hàng thiết yếu như lương thực, thực phẩm - rổ hàng hóa tiêu dùng chủ yếu của người nghèo - thường cao hơn rất nhiều so với những mặt hàng khác, nhất là những hàng hóa cao cấp - loại hàng hóa chiếm một tỷ phần chi tiêu lớn của những người khá giả hơn.

Ví dụ, nếu thu nhập của một người chủ yếu dành cho lương thực thực phẩm thì năm 2010 họ phải “đóng thuế” khoảng 17%, trong khi nếu chi cho đồ uống hay thiết bị và đồ dùng gia đình thì mức thuế chưa bằng một nửa con số nêu trên. 

Tóm lại, thuế lạm phát là thứ thuế tồn tại trong hầu hết các nền kinh tế, nhưng nó có tính lũy thoái đánh vào người nghèo gây ra bất công trong xã hội nên cần phải hết sức hạn chế bằng việc kéo mức tăng giá xuống càng thấp càng tốt (thông thường là một vài phần trăm ở các nước phát triển và dưới 5% ở các nước đang phát triển).

Có một điểm cần lưu ý khác là sở dĩ bất kỳ một Chính phủ nước nào cũng có thể in tiền và công chúng sẽ sử dụng chúng là do uy tín của Chính phủ. Nói một cách khác đằng sau giá trị của đồng tiền một nước nào đó chính là uy tín của Chính phủ. Do vậy, việc in và sử dụng tiền cần phải tính toán hết sức cẩn thận.

Saturday, 2 April 2011

376. Luật và dưới luật

(TBKTSG) - Ai cũng biết tình trạng khiếu kiện tràn lan hiện nay chủ yếu xuất phát từ việc thu hồi đất. Ngoại trừ các trường hợp thực thi luật tùy tiện thì bản thân việc giao quyền quá lớn cho cơ quan hành pháp hướng dẫn thi hành luật cũng là một trong những nguyên nhân sâu xa góp phần làm cho việc thu hồi đất trở nên rối ren.

Theo Luật Đất đai 2003, Nhà nước chỉ thu hồi đất trong các trường hợp đất được sử dụng vào các mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế (1) . Hầu hết các khiếu kiện, tranh chấp về thu hồi đất đều rơi vào trường hợp cuối.

Trường hợp cuối, tức thu hồi đất để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế được Luật Đất đai 2003 quy định vẻn vẹn trong bốn trường hợp cụ thể gồm: “Đầu tư xây dựng khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế và các dự án đầu tư lớn theo quy định của Chính phủ” (2) .

Như vậy, bằng quy định này Quốc hội đã trao cho Chính phủ một quyền hạn lớn. Đó là quyền được diễn giải luật theo cách của mình, nhất là đối với một quy định chung chung và đầy định tính như trên. Trong khi đó, năng lực giám sát của Quốc hội thì còn hạn chế.

Thực vậy, sau khi Luật Đất đai ra đời, Chính phủ đã ban hành Nghị định 181 hướng dẫn chi tiết thi hành. Theo đó, ngoài các trường hợp xây dựng khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế như luật định, Nhà nước còn được thu hồi đất đối với các dự án: a) Đầu tư sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, du lịch (với điều kiện dự án thuộc nhóm A và không thể đầu tư trong khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế); b) Các dự án sử dụng vốn ODA; c) Các dự án đầu tư 100% vốn nước ngoài (với điều kiện dự án không thể đầu tư trong khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế) (3) .

Nghị định 181 cũng không hề giải thích những dự án này có phải thuộc trường hợp “các dự án đầu tư lớn” như luật định hay không và tại sao lại mở rộng thêm ba trường hợp như vậy (nếu chi tiết ra thì con số còn lớn hơn). Quốc hội với chức năng giám sát của mình lẽ ra ngay từ đầu phải yêu cầu làm rõ nhưng cũng chẳng thấy động tĩnh, có lẽ vì lý do như trên đã nói.

Con số trường hợp Nhà nước được quyền thu hồi đất vẫn chưa dừng lại ở đó. Chỉ riêng loại dự án thuộc nhóm A, theo quy định tại Nghị định 16 (4) (hiện đã được thay thế bằng Nghị định 12 (5) ), đã được Chính phủ chi tiết hóa thành trên 50 lĩnh vực khác nhau (công nghiệp điện, hóa chất, phân bón, chế tạo máy, xi măng, luyện kim, điện tử, tin học, hóa dược, thiết bị y tế, bưu chính, viễn thông, y tế, văn hóa, giáo dục, phát thanh, truyền hình...). Đáng chú ý là ở cả hai văn bản nói trên, trong danh mục dự án nhóm A bắt đầu xuất hiện những khái niệm như “dự án xây dựng khu nhà ở”, “dự án xây dựng công trình dân dụng khác”…

Mặc dù con số trường hợp Nhà nước được quyền thu hồi đất vì phát triển kinh tế được mở rộng nhưng dẫu sao, theo ý kiến của các chuyên gia, để làm được điều đó dự án phải đảm bảo tuân thủ theo những điều kiện khá chặt chẽ. Chẳng hạn như đã nêu, dự án phải thuộc nhóm A (đảm bảo về mức vốn quy định và lĩnh vực được phép); dự án mà không thể đầu tư trong khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế.

Thế nhưng đến năm 2007, khi Chính phủ ban hành Nghị định 84 thì vấn đề càng đổi khác. Thứ nhất, các điều kiện để được Nhà nước thu hồi đất như quy định nói trên đã bị văn bản này bãi bỏ (6) . Nghĩa là, việc thu hồi đất trở nên dễ dãi, “thông thoáng” hơn. Thứ hai, danh mục dự án thuộc Nhà nước thu hồi đất tiếp tục được mở rộng. Nghị định này “bổ sung” thêm một loạt khái niệm mới không hề có trong Luật Đất đai là “Nhà nước thu hồi đất để thực hiện các dự án phát triển kinh tế quan trọng” (7) ; Nhà nước thu hồi đất để “xây dựng các khu kinh doanh tập trung” (8) .

Theo đó, các dự án khu dân cư (bao gồm dự án hạ tầng khu dân cư và dự án nhà ở), trung tâm thương mại, khách sạn cao cấp; dự án khu thương mại - dịch vụ, khu vui chơi giải trí ngoài trời, khu du lịch… đều thuộc danh mục Nhà nước thu hồi đất để phát triển, xây dựng! Nghị định còn trao cho Bộ Tài nguyên và Môi trường thẩm quyền hướng dẫn thực hiện chi tiết quy định này.

Danh mục các trường hợp Nhà nước thu hồi đất cứ thế tiếp tục được nhân rộng tại Thông tư 06 (9) của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Nào là dự án xây dựng nhà ở để bán hoặc cho thuê; nào là dự án xây dựng trung tâm thương mại, trung tâm hội chợ triển lãm; dự án xây dựng khách sạn cao cấp đạt tiêu chuẩn từ hạng 3 sao trở lên…

Như một quy luật tất yếu, việc bãi bỏ một số điều kiện cũng như mở rộng diện thu hồi đất của các nghị định và thông tư đã mở đường cho cuộc chạy đua thu hồi đất tràn lan và gần như không có điểm dừng. Người bị thu hồi đất nếu có khiếu kiện thì cũng bị xoay như chong chóng trong các khái niệm pháp lý rối rắm như “dự án phát triển kinh tế”; “dự án phát triển kinh tế quan trọng”; “dự án lớn”; “khu kinh doanh tập trung”…

Người ta cũng không thể hiểu nổi việc Quốc hội trao thẩm quyền hướng dẫn luật cho Chính phủ, rồi sau đó đến lượt mình Chính phủ lại giao cho các cơ quan bộ nhiệm vụ diễn giải các quy định của pháp luật thì có hợp lý không? Nhưng dù thế nào đi chăng nữa, cách ban hành luật pháp như trên rõ ràng đã và đang tạo nên những hệ lụy rất cần phải được xem xét, sửa đổi.

___________________________________________

(1) Điều 38, Luật Đất đai 2003

(2) Khoản 1, điều 40 Luật Đất đai 2003

(3) Điểm b, c, d, khoản 2, điều 36 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29-10-2004 của Chính phủ

(4) Nghị định 16/2005/N Đ-CP ngày 7-2-2005 của Chính phủ

(5) Nghị định 12/2009/N Đ-CP ngày 12-2-2009 của Chính phủ

(6) Điểm a, khoản 1, điều 67 Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25-5-2007 của Chính phủ

(7, 8) Điều 34, 35 Nghị định 84 Nghị định 84/2007/NĐ-CP

(9) Thông tư 06/2007/TT-BTNMT ngày 2-7-2007 của Bộ Tài nguyên và Môi trường

Friday, 1 April 2011

375. Xăng tăng, Cave cũng đòi tăng giá !! - Thư giản cuối tuần ( 02/04/2011)

Thư giản cuối tuần: Xăng tăng, Cave cũng đòi tăng giá !!

374.Ế ẩm như văn phòng cho thuê tại TP.HCM

Cảnh này sao giống năm 2008 dzử vậy ta ?

Theo Vef.vn: “Giá văn phòng cho thuê (VPCT) tại TP.HCM đang xuống thấp nhất trong vài năm gần đây và dự báo trong 1 - 2 năm tới thị trường VPCT vẫn ế ẩm, buộc phải giảm giá tiếp” - ông Chris Currie - Trưởng Bộ phận Văn phòng cho thuê - Tập đoàn CBRE trao đổi.

Ông Chris Currie cho biết cuộc khảo sát mới đây của CBRE cho thấy hiện đang có khoảng 25% văn phòng cho thuê tại TP.HCM bị bỏ trống. Chỉ có 5 thương hiệu gồm Saigon Tower, Diamond Plaza, Sunwa, Saigon Center và Metropolitan là có tỉ lệ thuê hơn 95% và vẫn giữ được giá thuê ổn định.

Các chủ đầu tư khác đang buộc phải giảm tiếp giá cho thuê (cuối năm 2010 đã giảm một đợt) khoảng 5% so quý IV/2010. Khó khăn nhất là những nhà đầu tư mới vừa bước chân vào thị trường rất khó tìm khách hàng.

- Cụ thể giá VPCT trong tháng 3/2011 ở mức nào, thưa ông ?

Giá cho thuê giữa tháng 3/2011: Văn phòng hạng A 30 - 35 USD/m2, giảm 1% so với quý IV năm 2010; hạng B giá thuê 20 USD/m2, giảm 5%; hạng C dưới 20 USD/m2, giảm 2 - 3%.

- Liệu có yếu tố gì để thị trường VPCT tăng giá trong thời gian tới, thưa ông ?

Rất khó. Có hai lý do để chúng tôi rút ra kết luận là trong 1 - 2 năm tới thị trường VPCT vẫn ế ẩm, buộc giảm giá thêm. Thứ nhất là do nguồn cung VPCT rất dồi dào, vượt cầu rất nhiều, đồng thời tiếp tục tăng.

“Giá văn phòng cho thuê (VPCT) tại TP.HCM đang xuống thấp nhất trong vài năm gần đây".
Hiện TP.HCM đang có khoảng 1,6 triệu m2 sàn VPCT, và như đã nêu là đang bị bỏ trống khoảng 25%. Từ nay đến cuối năm 2011 tại TP sẽ khai trương thêm hơn 1 triệu m2 sàn VPCT nữa, và trong khoảng 3 năm tới sẽ có thêm khoảng 1 triệu m2.

Cần nói thêm, năm 2010 tại TP.HCM chỉ có 250.000 m2 VPCT được thuê. Như vậy, là nguồn cung VPCT hiện nay và thời gian tới là quá lớn so với nhu cầu.

Thứ 2 là do kinh tế đang khó khăn như tình hình lạm phát, DN sản xuất kinh doanh có chiều hướng giảm hoặc chững lại nghe ngóng tình hình.

- Với tình hình VPCT tại TP.HCM ế ẩm như trên, các chủ đầu tư cần phải chú ý đến điều gì ?

Một đồng nghiệp của tôi - ông Nigel Smith - GĐ điều hành Cty CBRE Hong Kong cho rằng để đối phó với tình hình ế âm hiện nay thì DN phải tăng cường tiếp thị, quảng bá, tạo sự khác biệt hình ảnh, uy tín...

Các VPCT, căn hộ để bán phải đề cao tính thân thiện môi trường, thân thiện cộng đồng, tính phát triển bền vững, tính nổi bật, tính hiện đại...

Ví dụ, ở Hong Kong, có tòa cao ốc cho thuê vì muốn thân thiện cộng đồng nên đã lát vỉa hè miễn phí cho cả khu phố quanh tòa nhà của họ. Ở Hoa Kỳ, những tòa nhà có chứng nhận thân thiện môi trường luôn cho thuê và bán dễ hơn so các tòa nhà chưa có chứng nhận này...

- Ông nghĩ thế nào về nghịch lý trong khi đang có hàng triệu người VN đang rất cần nhà ở, thì, nguồn cung căn hộ cho thuê - bán... lại thừa và ế ẩm ?

Đây là tình hình chung của tất cả các thị trường BĐS mới phát triển. Khoảng 20 năm trước tại Hong Kong cũng xảy ra tình trạng này. Đại đa số quần chúng không mua được nhà vì giá quá cao so với thu nhập. Tại VN hiện nay, giá nhà ở quá cao so khả năng mua của đại đa số quần chúng do nhiều nguyên nhân như giá thành xây dựng cao, chi phí nhiều, giấy tờ hồ sơ chậm...

Trong đó có nguyên nhân giá BĐS còn bị các nhà đầu tư, và giới đầu cơ BĐS thao túng giá và đẩy giá lên cao. Một phần khác là do phần lớn BĐS hiện nằm trong tay một bộ phận nhỏ nhà đầu tư hướng sản phẩm của mình vào thị phần cao cấp, lợi nhuận cao, quay vòng vốn nhanh... chứ chưa vào số đông người có thu nhập trung bình.

- Vậy tại VN nói chung, TP.HCM nói riêng, Nhà nước cần có chính sách gì để đại đa số quần chúng mua được nhà ?

Cũng như trên thế giới, để đại đa số tầng lớp bình dân có nhà ở thì nhà nước phải hỗ trợ, có chính sách khuyến khích, ưu đãi đối với cả bên cung ứng và bên mua. Ví dụ đối với bên cung cấp, nhà nước có thể cấp hoặc cho thuê đất giá rẻ, ưu tiên giải quyết hồ sơ, cho vay vốn lãi suất ưu đãi... Tương tự, đối với bên thuê - mua nhà thì nhà nước cho vay vốn, trả chậm...

- Xin cảm ơn ông.

(Theo Diễn đàn Doang nghiệp)

Tư liệu về trận chiến Lão Sơn năm 1984 của anh Hà Minh Thành - 4 (tác giả thực) - Giao - Giao - Yahoo! 360plus

http://vn.360plus.yahoo.com/dzjao/article?mid=6810
http://vn.360plus.yahoo.com/dzjao/article?mid=6810: Tư liệu về trận chiến Lão Sơn năm 1984 của anh Hà Minh Thành - 4 (tác giả thực) - Giao - Giao - Yahoo! 360plus

Vietnam’s Dong Drops to Lowest Close in 18 Years - Bloomberg

http://www.bloomberg.com/news/2011-03-30/vietnam-s-dong-drops-to-lowest-close-in-18-years-on-deficit.html
Vietnam’s Dong Drops to Lowest Close in 18 Years - Bloomberg: http://www.bloomberg.com/news/2011-03-30/vietnam-s-dong-drops-to-lowest-close-in-18-years-on-deficit.html

Ai đã từng "đáo tụng đình" mới hiểu được sự quý giá củaLuật tiếp cận thông tin !! Ôi, giấc mơ bao giờ có thật đây

679.0 Hướng dẫn cài đặt AD RMS server ( Active Directory Rights Management Services) có trong Windows Server 2012.

Nguồn: https://mdungblog.wordpress.com/2018/06/21/simple-guide-huong-dan-cai-dat-ad-rms-windows-server-2012-r2/   Hôm nay mình xin giới thiệ...