Sunday, 22 January 2012

590.Thói ngụy biện ở người Việt

Thói ngụy biện ở người Việt In Email
Thứ sáu, 14 Tháng 5 2010 23:31

 

Tranh luận trên các diễn đàn công cộng là một hình thức trao đổi ý kiến không thể thiếu được trong một xã hội văn minh. Ở nhiều nước, lưu lượng của những tranh luận cởi mở và nghiêm túc được xem là một dấu hiệu của một xã hội lành mạnh. Ở các nước phương Tây, hầu như ngày nào báo chí cũng có những bài của những cây bỉnh bút tranh luận về một vấn đề nóng nào đó. Trên tivi cũng có những cuộc tranh luận trực tiếp giữa hai hay nhiều người về những chủ đề từ “đại sự” đến những vấn đề tưởng như nhỏ nhất. Trong các hội nghị khoa học, trước một vấn đề còn trong vòng nghi vấn, người ta cũng có những chuyên gia tranh luận dưới dạng những bài giảng khoa học.

Nhưng thế nào là tranh luận nghiêm túc? Nói một cách ngắn gọn, cũng như trong một cuộc đấu võ, một tranh luận nghiêm túc là một cuộc tranh luận có qui tắc, mà trong đó người tham gia không được, hay cần phải tránh, phạm luật chơi. Những qui tắc chung và căn bản là người tham gia chỉ phát biểu bằng cách vận dụng những lí lẽ logic, với thái độ thành thật và cởi mở, chứ không phát biểu theo cảm tính, lười biếng, hay biểu hiện một sự thiển cận, đầu óc hẹp hòi.
http://eduspaces.net/cripple/files/-1/27021/fallacy2.gif

Để đạt những yêu cầu này, người tranh luận nghiêm túc trước khi phát biểu hay đề xuất ý kiến, đưa ra lời bình phẩm của mình, cần phải xem xét tất cả các trường hợp khả dĩ, phải cân nhắc những quan điểm và những cách giải thích khác nhau, phải đánh giá ảnh hưởng của sự chủ quan và cảm tính, phải tập trung vào việc tìm sự thật hơn là muốn mình đúng, phải sẵn sàng chấp nhận những quan điểm không được nhiều người ưa chuộng, và phải ý thức được định kiến và chủ quan của chính mình. Khi tranh luận phải nhất quán là chỉ xoay quanh chủ đề bàn luận, luận điểm bàn luận chứ không đi lạc đề. Không công kích vào cá nhân và nhân thân của người tham gia tranh luận.

Đó là những đòi hỏi khó khăn cho một cuộc tranh luận nghiêm túc có ý nghĩa, và không phải ai cũng có khả năng đạt được những yêu cầu này, nhất là đối với người Việt vốn chưa quan với văn hóa tranh luận. Do đó, không mấy ai ngạc nhiên khi thấy có quá nhiều trường hợp chất lượng của những cuộc tranh luận giữa người Việt rất thấp. Chỉ cần xem qua những cái-gọi-là “tranh luận” trên các diễn đàn báo chí (và nhất là các “chat room” hay blog), người ta có thể thấy đó không phải là tranh luận, mà là những cuộc đụng độ giũa các cá nhân tham gia tranh luận, những cuộc chửi bới, chẳng có lí luận của người tranh luận. Ngoài ra, đối với một số người tham gia bình luận về một câu chuyện nào đó là một cuộc dàn xếp, một sự đóng kịch, nhằm tung hỏa mù hoặc lên lớp, hoặc a dua theo đám đông. Đó là những kịch bản ngớ ngẩn đến tội nghiệp. Ngớ ngẩn là vì người xuất hiện chẳng nói được gì cho đầy đủ, mà cũng chẳng phân tích một vấn đề gì cho đến nơi đến chốn.

Thật vậy, rất nhiều trường hợp, những cuộc tranh luận giữa người Việt chỉ là những cuộc chửi lộn, mà trong đó người ta tha hồ vung vít, ném liệng vốn liếng chữ nghĩa qua lại một cách hỗn độn, mà chẳng cần để ý đến logic hay các nguyên tắc của tranh luận là gì. Hơn nữa, rất dễ dàng nhận thấy rằng trong các cuộc tranh luận đó người ta nhắm vào mục tiêu là nhân thân, cá nhân của người tranh luận chứ không nhắm vào quan điểm và lí lẽ của người đó. Thay vì tranh luận thẳng vào vấn đề, người ta tìm cách gắn cho đối phương một nhãn hiệu, và từ đó làm lu mờ đi quan điểm của họ. Trong hầu như những tranh luận, nhiều người cố tìm hay tạo cho mình một vị trí đạo cao đức trọng cả bằng cách gắn cho đối phương những danh từ và tính từ mang tính miệt thị, một thủ đoạn có khả năng làm cho một cuộc tranh luận trở nên một cuộc ẩu đã ngôn từ đinh tai nhức óc thay vì là một trao đổi khoa học.

Thực ra, đó là một hình thức ngụy biện, một lỗi lầm cơ bản nhưng nghiêm trọng trong tranh luận. Nói một cách đơn giản, ngụy biện là những nhầm lẫn trong lí luận và suy luận. Ngụy biện khác với logic. Logic, nói một cách ngắn gọn trong trường hợp này, là những qui ước quản lí tính nhất quán trong việc sử dụng ngôn ngữ. Giới triết học Tây phương đã bỏ khá nhiều công sức để phân biệt thế nào là logic và thế nào là ngụy biện. Aristotle có lẽ là một nhà logic học đầu tiên có công phát triển các qui tắc và hệ thống suy luận. Trong quá trình làm việc, ông phát hiện ra nhiều lỗi lầm mà sau này người ta quen gọi là những “ngụy biện.” Mặc dù Aristotle là một nhà nhà logic học đầu tiên có công liệt kê và phân loại những loại ngụy biện, thầy của ông (Plato) mới xứng đáng được vinh danh như là một nhà triết học đầu tiên đã có công sưu tầm những ví dụ về ngụy biện. Kể từ khi Plato và Aristotle, đã có khá nhiều nhà triết học và logic học như John Locke, John Stuart Mill, Jeremy Bentham, và Arthur Schopenhauer cũng có nhiều cống hiến quan trọng trong việc nghiên cứu về ngụy biện.

Điều đáng chú ý là những lỗi lầm về ngụy biện ở người Việt lại hay thấy trong giới có học. Chỉ cần điểm qua báo chí, websites, blog, v.v... chúng ta dễ dàng thấy rất nhiều cái-gọi-là "tranh luận" thật ra chỉ là ngụy biện. Tuy nhiên, nhiều người vẫn chưa biết đó là những ngụy biện, mà thậm chí còn hết lời khen ngợi kẻ ngụy biện là ... uyên bác! Điều này cho thấy trong những người Việt học cũng có người rất lười biếng suy nghĩ và chẳng phân biệt được thật và giả, không có khả năng nhận dạng được ngụy biện. Phải ghi nhận một điều là internet đã rất tuyệt vời, vì qua những "tranh luận" và chửi bới của những kẻ tham gia trên internet, chúng ta biết được bộ mặt xấu xí đằng sau những người mang nhãn mác "trí thức" hay "có học". Những kẻ này tương đối nguy hiểm, vì với cái nhãn mác "có học" đó, họ có cơ hội làm lũng đoạn xã hội và trở thành những con vi khuẩn làm nhiễm trùng nền học thuật nước nhà. Do đó, cần phải giúp họ nhận ra đâu là ngụy biện và đâu là logic.

Thực ra, nhận dạng ngụy biện không phải là một việc làm khó khăn. Nói chung chỉ với một lương năng bình dân, người ta có thể phân biệt một phát biểu mang tính ngụy biện với một phát biểu logic. Tuy nhiên, cũng có nhiều dạng thức ngụy biện mà vẻ bề ngoài hay mới nghe qua thì rất logic, nhưng thực chất là phi logic. Những loại ngụy biện núp dưới hình thức “khoa học” này không dễ nhận dạng nếu người đối thoại thiếu kiến thức về logic học hay thờ ơ với lý lẽ. Do đó, một điều quan trọng trong tranh luận là cần phải phát hiện và nhận dạng những hình thức ngụy biện, và quan trọng hơn, cần phải hiểu tại sao chúng sai. Có thể phân loại ngụy biện thành nhiều nhóm khác nhau liên quan đến việc đánh lạc vấn đề, lợi dụng cảm tính, thay đổi chủ đề, nhầm lẫn trong thuật qui nạp, lý luận nhập nhằng, phi logic, và sai phạm trù. Trong khuôn khổ giới hạn, người viết bài này không có tham vọng trình bày tất cả những loại ngụy biện một cách chi tiết (vì việc này đã được hệ thống hóa trong nhiều sách về logic học), mà chỉ muốn liệt kê ra những loại ngụy biện thường hay gặp trong báo chí và truyền thông, hầu giúp bạn đọc có thể phân biệt giữa chân và giả.

Liệt kê sau đây là một loạt những ngụy biện phổ biến hay thấy ở người Việt. Những ngụy biện này có thể phân thành 7 nhóm như sau:

• Đánh tráo chủ đề
• Lợi dụng cảm tính và đám đông
• Làm lạc hướng vấn đề
• Qui nạp sai
• Nhập nhằng đánh lận con đen
• Phi logic
• Các nhầm lẫn khác

Nhóm 1. Đánh tráo chủ đề

1. Công kích cá nhân
(ad hominem). Đây là một loại ngụy biện phổ biến nhất, thấp kém nhất, nguy hiểm nhất, nhưng có “công hiệu” nhất, vì nó tấn công vào cá nhân của người tranh luận, và tìm cách trốn tránh luận điểm của cá nhân đó. Hình thức ngụy biện này thường xuất hiện dưới dạng: Ông A phát biểu về một vấn đề; ông B tấn công vào cá nhân ông A, và làm cho người ta nghi ngờ luận điểm của ông A. Tuy nhiên, có thể không có mối liên hệ nào giữa cá nhân và luận điểm của ông A.

Có hai hình thức thuộc loại ngụy biện này. Thứ nhất là dưới hình thức sỉ nhục, hay chửi rủa. Khi bất đồng ý kiến, người ngụy biện chỉ việc công kích vào cá nhân của người phát biểu. Chẳng hạn như “Ông nói là những người vô thần có đạo đức, vậy mà chính ông là người từng li dị với vợ con,” hay “Ông là người làm kinh tế, không biết gì về khoa học, mà nói chuyện khoa học”. Đây là một ngụy biện, bởi vì sự thật của phát biểu không tùy thuộc vào cá nhân của người phát biểu, mà là logic của lời phát biểu. Cũng nằm trong loại ngụy biện này là thói dùng một đặc điểm của một vật thể nào đó để ứng dụng cho một cá nhân hay một vật thể khác. Ví dụ: “Anh học của Tây có vài chữ mà đã quay lại chửi bới đồng nghiệp à? Anh là con công cháu cha, anh không hiểu gì về sự nghèo khổ của chúng tôi.”

2. Lợi dụng quyền lực (ad verecundiam). Đây là loại ngụy biện dùng những nhân vật nổi tiếng hay được nhiều người ái mộ để tìm sự ủng hộ cho luận điểm của mình. Chẳng hạn như “Isaac Newton là một thiên tài, và ông tin vào Thượng đế,” làm như ông Newton là người có thẩm quyền để chúng ta tin vào Thượng đế. Thẩm quyền không thuyết phục được ai; chỉ có sự thật, lí lẽ và logic mới quan trọng và có khả năng thuyết phục.

3. Lợi dụng nặc danh. Trong trường hợp này, người ngụy biện không nêu danh tính người có thẩm quyền, và vì không ai biết tên người có thẩm quyền nên không ai có thể kiểm chứng sự chính xác của lời phát biểu. Một loại ngụy biện khác có quan hệ với loại này là dùng lời đồn đại để làm cơ sở lập luận. Giới công an hay sử dụng ngụy biện này, ví dụ như “Một viên chức tình báo cho biết chính anh từng hoạt động cho địch.”

4. Lợi dụng tác phong. Loại ngụy biện này dùng tác phong hay cách làm việc hay một đặc tính nào đó của đối tượng để cố thuyết phục về tính hợp lí của phát biểu. Tiêu biểu cho loại ngụy biện này là những phát biểu như “Nixon thất cử vì ông ta thường hay ra mồ hôi trên trán,” hay “Tại sao anh không nghe theo lời khuyên của anh chàng ăn mặc bảnh bao đó?” Thực ra, “bảnh bao” và “mồ hôi trên trán” chẳng có dính dáng gì đến vấn đề đang bàn thảo.

5. Luận điệu cá trích. Loại ngụy biện này thường hay được ứng dụng khi một người nào đó đưa vào những phát biểu không dính dáng gì đến vấn đề đang tranh luận, nhằm mục đích đánh lạc hướng vấn đề. Ví dụ: “Anh có thể nói rằng tử hình là một hình thức không có hiệu quả trong việc chống lại tội phạm, nhưng còn nạn nhân của tội phạm thì sao? Gia đình của nạn nhân sẽ nghĩ gì khi họ thấy tên sát nhân người thân của họ bị giam giữ trong nhà tù bằng đồng tiền của chính họ. Họ có nên nuôi dưỡng những tên sát nhân như thế không?”

6. Luận điệu ngược ngạo. Bằng chứng luôn luôn là gánh nặng của người phát biểu. Do đó, tìm cách chuyển gánh nặng đó cho một người khác là một thủ đoạn của những người ngụy biện. Chẳng hạn như trong câu này “Anh nói rằng ăn nhiều mỡ không liên quan đến cholesterol, nhưng anh có thể chứng minh điều đó không?” Đáng lẽ người phát biểu phải chứng minh, nhưng công việc đó lại được chuyển cho người đối thoại!

Nhóm 2. Lợi dụng cảm tính và đám đông

7. Dựa vào bạo lực
(ad baculum). Ngụy biện dựa vào bạo lực thực chất là một sự đe dọa, nhằm mục đích gây áp lực cho người đối thoại phải chấp nhận một kết luận nào đó. Loại ngụy biện này thưởng được giới chính khách dùng, và có thể tóm gọn bằng một câu “chân lí thuộc về kẻ mạnh”. Sự đe dọa không hẳn chỉ xuất phát từ người phát biểu, mà có thể từ một người khác. Ví dụ như “Những ai không tin vào chính sách của Nhà nước sẽ phải trả giá đắt”, hay “Được rồi, tôi đã biết số điện thoại của anh và biết anh đang ở đâu. À, tôi có nói cho anh biết là tôi mới mua một cây súng ngắn chưa nhỉ?”

8. Lợi dụng lòng thương hại (ad misericordiam). Đây là một loại ngụy biện dựa vào lòng trắc ẩn của người đối thoại để người đối thoại chấp nhận lí lẽ của mình. Ví dụ như “Anh ấy không có giết người bằng búa. Làm ơn đừng tuyên án anh ấy có tội, anh ấy đang trải qua một giai đoạn khủng hoảng tinh thần,” hay “Tôi hi vọng anh sẽ chấp nhận đề nghị này, chúng ta đã tiêu ra ba tháng nay để bàn rồi đấy.”

9. Lợi dụng hậu quả (ad consequentiam). Ngụy biện loại này thường được biểu hiện qua cách phát biểu “A hàm ý B, B là sự thật, do đó A là sự thật”. Ví dụ: “Nếu vũ trụ được một đấng chí tôn thượng đế tạo nên, chúng ta có thể thấy những hiện tượng được tổ chức một cách thứ tự. Và hiện tượng chung quanh chúng ta quả rất thứ tự, vậy đấng chí tôn thượng đế chính là người tạo nên vũ trụ,” hay “Anh phải tin vào Đảng Cộng hòa, chứ nếu không cuộc đời này sẽ chẳng có ý nghĩa” (hay là nói một cách ngược lại: cuộc sống này chẳng có ý nghĩa gì nếu không có Đảng cộng hòa!)

10. Lạm dụng chữ nghĩa. Đây là một loại ngụy biện dựa vào dùng những chữ mang cảm tính cao để gắn một giá trị đạo đức vào một đề nghị hay một câu phát biểu. Chẳng hạn như trong câu “Bất cứ một người có lương tri nào cũng phải đồng ý rằng về Việt Nam ăn Tết là làm lợi cho cộng sản,” chữ “lương tri” được cài vào nhằm cho người đối thoại phải nghiêng theo những người có lương tri.

11. Dựa vào quần chúng (ad numerum). Loại ngụy biện này tin rằng nếu có nhiều người ủng hộ một đề nghị nào đó, thì đề nghị đó phải đúng. Ví dụ như “Đại đa số người dân trong cộng đồng ủng hộ ông Minh, vậy phát biểu của ông Minh ắt phải đúng.”

Nhóm 3. Làm lạc hướng vấn đề

12. Lí lẽ chẻ đôi
. Loại ngụy biện này thường phân định một vấn đề thành hai giá trị: trắng và đen, bạn và thù, có và không, v.v.. dù trong thực tế, có hơn hai lựa chọn. Chẳng hạn như “Hoặc là anh hợp tác với tôi hay là anh chống tôi, anh chọn hướng nào, yes hay là no?”

13. Lí lẽ ngờ nghệch (ad ignorantiam). Loại ngụy biện này, như tên gọi ám chỉ, xuất phát từ sự ngớ ngẩn. Một trong những cách nói thông thường nhất trong loại ngụy biện này mà giới ngụy biện hay dùng là nếu một điều gì đó chưa được chứng minh là sai (hay giả) thì điều đó là đúng (hay thật). Ví dụ: “Bởi vì các nhà khoa học chưa chứng minh dioxin có thể gây ra dị thai, do đó dioxin không thể gây ra dị thai,” hay kiểu lí luận của “nền kinh tế phát triển và xã hội ổn định mấy năm nay, không có lý do gì phải cần đến dân chủ”.

14. Lí luận lươn trạch. Loại ngụy biện này cho rằng nếu một sự kiện xảy ra, các sự kiện có hại khác sẽ xảy ra. Chẳng hạn như “Nếu chúng ta hợp pháp hóa cần sa, công chúng sẽ bắt đầu hút cần sa, và chúng ta cũng sẽ phải hợp pháp hóa á phiện. Rồi chúng ta sẽ là một quốc gia với những người ăn bám vào xã hội. Do đó, chúng ta không thể hợp pháp hóa á marijuana”. Hay một đoạn ví dụ khác:” Tiếc thay một cuộc cải cách về kinh tế, bình bị, tài chánh, xã hội, nông nghiệp như vậy, đang trên đường thành công rực rỡ: bị tan vỡ, bị huỷ bỏ chỉ vì tham vọng đánh Đại việt của Vương An Thạch. Mà đau đớn biết bao, khi người phá vỡ chỉ là một thiếu phụ Việt ở tuổi ba mươi. Giá như Thạch không chủ trương Nam xâm, chỉ cần mười năm nữa, toàn bộ xã hội Trung quốc thay đổi; rồi với cái đà đó, thì Trung quốc sẽ là nước hùng mạnh vô song, e rằng cứ muôn đời mặt trời vẫn nở phương Đông chứ không ngả về Tây như hồi thế kỉ 18 cho đến nay bao giờ.”

15. Mệnh đề rời rạc. Đây là loại ngụy biện dùng hai (hay nhiều hơn hai) mệnh đề chẳng dính dáng gì với nhau để làm thành một phát biểu hay kết luận. Ví dụ: “Anh ủng hộ tự do dân chủ và quyền mang vũ khí hay không?” hay “Anh đã ngưng làm ăn trái phép chưa?” Câu hỏi sau thực ra hỏi hai vấn đề “Anh từng làm ăn trái phép?” và “Anh đã ngừng hoạt động hay chưa?”
16. Đơn giản hóa. Đây là một loại ngụy biện mà người phát biểu cố tình biến một quan niệm trừu tượng thành một điều cụ thể để bắt lấy thế thượng phong trong đối thoại (nhưng là ngụy biện). Ví dụ: “Tôi để ý thấy anh mô tả ông ta là một người quỉ quyệt. Vậy tôi hỏi anh cái “quỉ quyệt” đó nó nằm ở đâu trong bộ não? Anh không chỉ ra được cho tôi; do đó, tôi có thể nói cái quỉ quyệt không có thực.”

Nhóm 4. Qui nạp sai

17. Khái quát hóa vội vã
. Loại ngụy biện này cũng khá phổ biến. Nó dùng một ví dụ hay trường hợp nhỏ và từ đó khái quát hóa cho một cộng đồng. Chẳng hạn như “Ông ấy là một tay đạo đức giả. Do đó, các bạn bè của ông ấy cũng giả dối.”

18. Khái quát hóa không đúng chỗ. Đây là loại ngụy biện mà người sử dụng chúng thường áp dụng một qui luật chung cho một tình huống hay một cá nhân. Chẳng hạn như “Người cộng sản là vô thần. Anh là người theo chủ nghĩa cộng sản, vậy anh chắc chắn là một người vô thần.”

19. Kéo dài tính tương đồng. Trong loại ngụy biện này, người dùng nó đề nghị một điều lệ chung chung, rồi áp dụng nó cho mọi trường hợp và cá nhân. Ví dụ: “Tôi tin rằng chống luật pháp bằng cách phạm luật pháp là một điều sai trái”, hay “Nhưng quan điểm đó ghê tởm lắm, vì nó ám chỉ rằng anh sẽ không ủng hộ tôi,” hay “Anh muốn nói rằng luật về mật mã cũng có tầm quan trọng tương đương với phong trào giải phóng sao? Sao anh dám nói thế?”

20. Lí lẽ quanh co. Loại ngụy biện này thường luẩn quẩn trong vài giả định và kết luận. Chẳng hạn như “Những người đồng tính luyến ái nhất định không thể nắm chính quyền. Do đó, phải tống khứ những viên chức chính phủ đồng tính luyến ái. Vì thế, những người đồng tính luyến ái sẽ làm mọi cách để dấu diếm hành tung của họ, và họ có nguy cơ bị tống tiền. Do vậy, những người đồng tính luyến ái không được giữa chức vụ gì trong chính phủ.” Tức là trong một lí giải như thế, cả hai giả thuyết và kết luận đều giống nhau.

21. Đảo ngược điều kiện. Loại ngụy biện này thường được biểu hiện qua hình thức “Nếu A xảy ra thì B sẽ xảy ra, do đó, nếu B xảy ra thì A sẽ xảy ra.” Ví dụ: “Nếu tiêu chuẩn giáo dục bị hạ thấp, chất lượng tranh luận sẽ bị tồi đi. Do đó, nếu chúng ta thấy chất lượng tranh luận suy đồi trong những năm sắp đến, thì điều đó cho thấy tiêu chuẩn giáo dục của ta bị xuống cấp.”

22. Lợi dụng rủi ro. Ngụy biện này thường dùng một qui luật chung và áp dụng nó cho một trường hợp cá biệt. Ví dụ: “Luật giao thông không cho anh chạy quá 50 km/h. Cho dù cha anh sắp chết anh cũng không được chạy quá tốc độ đó.”

23. Lợi dụng trường hợp cá biệt. Ngụy biện này thường dùng một trường hợp cá biệt để đem ra ứng dụng cho một đám đông. Ví dụ: “Chúng ta cho phép bệnh nhân sắp chết dùng á phiện, chúng ta nên cho phép mọi người dùng á phiện.”

24. Kết luận lạc đề. Loại ngụy biện này thường xuất hiện khi một kết luận chẳng dính dáng gì đến lí lẽ mà người biện luận trình bày. Một ví dụ tiêu biểu cho trường hợp ngụy biện này là: “Độ nhiễm arsenic trong nước ở Việt Nam chưa cao và còn trong mức độ cho phép. Dữ kiện của Bangladesh cho thấy tình trạng nhiễm arsenic ở Việt Nam rất trầm trọng.”

25. Ngụy biện rơm. Loại ngụy biện này cố tình xuyên tạc, bóp méo quan điểm hay phát biểu của người khác, để làm luận điểm tấn công. Đây là một ngụy biện, vì nó không đương đầu với cái lí lẽ đang bàn. Chẳng hạn như: “Chúng ta nên ủng hộ chế độ cưỡng bách quân dịch. Người ta không thích tòng quân vì họ không muốn cuộc sống bị đảo lộn. Nhưng họ cần nhận thức rằng có nhiều điều quan trọng hơn tiện nghi trong cuộc sống.”
Nhóm 5. Nguyên nhân giả tạo

26. “Post hoc”. Loại ngụy biện này phát biểu rằng hai sự kiện xảy ra, một trước và một sau, có quan hệ với nhau như nguyên nhân và hậu quả. Ví dụ: “Liên Xô sụp đổ sau khi nhà nước theo chủ nghĩa vô thần. Do đó, chúng ta phải từ bỏ chủ nghĩa vô thần để khỏi bị suy sụp.”

27. Ảnh hưởng liên đới. Một sự kiện được cho là có ảnh hưởng đến một sự kiện khác, nhưng thực chất thì cả hai sự kiện đều có cùng một nguyên nhân. Đây cũng chính là một trường hợp ngụy biện dưới dạng “post hoc”. Ví dụ: “Chúng ta đang chứng kiến một tình trạng thất nghiệp rất cao, vì do thiếu nhu cầu của người tiêu thụ.” (Nhưng có thể cả hai sự kiện có nguyên nhân từ tiền lời quá cao.)

28. Ảnh hưởng không đáng kể. Đây là một loại ngụy biện mang tính phóng đại từ một ảnh hưởng rất nhỏ. Chẳng hạn như “Hút thuốc gây ra ô nhiễm môi trường ở Sydney” là một phát biểu đúng, nhưng ảnh hưởng của thuốc lá đến môi trường rất khiêm tốn khi so với ảnh hưởng của khói xe và các hãng xưởng.

29. Ảnh hưởng ngược chiều. Mối quan hệ giữa nguyên nhân và hậu quả bị đảo ngược chiều để tìm đến một kết luận mang tính ngụy biện. Ví dụ: “Ung thư gây ra thói quen hút thuốc lá”.
30. Nguyên nhân phức tạp. Một sự kiện xảy ra có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng người ngụy biện có thể đơn giản hóa thành một liên hệ đơn giản. Chẳng hạn như “Tai nạn xe cộ là do đường xá xấu” có thể đúng, nhưng tai nạn cũng có thể do người lái xe ẩu trong một điều kiện xấu.

31. Nguyên nhân sai (Non causa pro causa). Loại ngụy biện này xảy ra khi một điều nào đó được cho là nguyên nhân của một sự kiện, nhưng nó chưa thực sự được chứng minh là nguyên nhân. Ví dụ: “Tôi uống một viên aspirin và cầu nguyện thượng đế, và tôi không còn bị nhức đầu. Như vậy thượng đế đã chữa trị tôi khỏi nhức đầu.”

Nhóm 6. Phi logic (non sequitur) và nhần lẫn trong tam đoạn luận

32. Phi logic. Ngụy biện phi logic thường xảy ra trong trường hợp một lí lẽ mà kết luận được rút ra từ những tiêu đề không dính dáng gì với nhau. Chẳng hạn như “Người Ai Cập đã từng làm nhiều khai quật để xây dựng những kim tự tháp, họ chắc chắn phải rất thạo về cổ sinh vật học.”

33. Loại bỏ tiền đề. Ngụy biện loại này thường xảy ra dưới hình thức “nếu A thì B, không phải A thì không phải B.” Ví dụ: “Nếu tôi ở Sydney thì tôi đang ở New South Wales. Tôi hiện không ở Sydney, do đó, tôi không ở New South Wales”.

34. Nhét chữ vào miệng người khác. Đây là một loại ngụy biện bằng cách dùng kĩ thuật phỏng vấn. Một trường hợp cổ điển là “Ông đã ngưng đánh vợ chưa?” Tức là một câu hỏi với một giả định rằng người được hỏi từng hành hung vợ. Đây là một mẹo mà giới luật sư thường hay dùng trong thẩm vấn. “Ông dấu tiền ăn cắp đó ở đâu?” Giới chính khách cũng thích mẹo này, đại khái như “Bao giờ thì nhóm EU này sẽ không còn xâm phạm vào công việc của chúng ta?”


35. Ngụy biện tứ ngữ. (Một tiêu chuẩn của tam đoạn luận gồm có 3 chữ). Ví dụ như trong câu phát biểu “Tất cả chó là thú vật, và tất cả mèo là loài động vật có vú, do đó tất cả chó là loài động vật có vú,” có bốn chữ: chó, mèo, động vật, và động vật có vú.

36. Đứt đoạn. Hai sự vật riêng biệt được xem là có liên hệ nhau nếu chúng có chung đặc tính. Người ngụy biện lợi dụng chữ giữa của một phát biểu để đưa đến một kết luận sai. Chẳng hạn như trong câu “Tất cả người Nga là nhà cách mạng, và tất cả những người theo chủ nghĩa vô chính phủ cũng là nhà cách mạng, do đó, tất cả những người theo chủ nghĩa vô chính phủ là người Nga,” chữ chính giữa là “nhà cách mạng”. Nhưng kết luận này sai, vì dù những người theo chủ nghĩa vô chính phủ và người Nga là những người cách mạng, nhưng họ có thể là hai nhóm cách mạng khác nhau.

Nhóm 7. Các nhầm lẫn khác

37. Dẫn chứng bằng giai thoại. Một trong những ngụy biện phổ biến nhất và đơn giản nhất là dựa vào những câu chuyện có tính vụn vặt, hay giai thoại. Chẳng hạn như “Có hàng khối bằng chứng cho thấy thượng đế hiện hữu và vẫn ban phép mầu hàng ngày. Mới tuần rồi đây, tôi có đọc được một câu chuyện về một cô gái sắp chết vì ung thư, cả gia đình cô đi cầu nguyện trong nhà thờ, và chỉ vài ngày sau cô hết bệnh.” Dùng kinh nghiệm cá nhân để minh họa cho một luận điểm là một điều hoàn toàn hợp lí, nhưng dùng những giai thoại như thế sẽ chẳng chứng minh gì. Một anh bạn có thể cho rằng anh từng gặp Elvis ở một siêu thị nào đó, nhưng những người chưa gặp Elvis bao giờ thì cần nhiều bằng chứng xác thực hơn.

38. Lợi dụng cổ tích.
Đây là một loại ngụy biện cho rằng những gì đúng hay tốt chỉ đơn giản vì chúng là cổ xưa, và những người theo cách ngụy biện này thường nói “hồi nào đến giờ ai cũng vậy.” Chẳng hạn như “Hàng trăm năm nay, Úc chịu dưới sự cai trị của Hoàng gia Anh, và là một nước thịnh vượng. Một thể chế tồn tại lâu dài như thế ắt phải là một thể chế ưu việt.”

39. Dựa vào cái mới (ad novitatem). Ngược lại với loại ngụy biện dựa vào cái cũ, ngụy biện dựa vào cái mới cho rằng một điều gì đó tốt hơn và đúng hơn đơn giản chỉ vì nó mới hơn cái khác. “Windows 2000 phải tốt hơn Windows 95, Windows 2000 mới được thiết kế lại năm ngoái.”
40. Lí lẽ của đồng tiền. Loại ngụy biện này thường dựa vào một niềm tin duy nhất rằng đồng tiền là một tiêu chuẩn của sự đúng đắn. Những người có nhiều tiến có khả năng đúng hơn những người ít tiền. Chẳng hạn như “Nhu liệu của hãng Microsoft đương nhiên là tốt hơn; nếu không thì làm sao Bill Gates có thể trở nên tỉ phú như thế”.

41. Dựa vào cái nghèo. Ngược lại với ngụy biện dựa vào sự giàu có, có một loại ngụy biện khác dựa vào sự nghèo khổ. Chẳng hạn như “Các vị sư có khả năng hiểu thấu được ý nghĩa của cuộc sống, bởi vì họ từ bỏ mọi xa hoa của cuộc sống.”

42. Điệp khúc (ad nauseam). Loại ngụy biện này cho rằng một lí lẽ càng được lặp đi lặp lại nhiều chừng nào thì nó sẽ được người ta chấp nhận là đúng. Do đó, người ngụy biện thường chỉ lặp đi lặp lại những phát biểu, bất kể đúng sai ra sao, cho đến khi người đối thoại mệt mỏi không còn muốn nghe nữa, như “Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, nhà nước quản lí”.

43. Lạm dụng thiên nhiên. Đây là một ngụy biện rất thông thường trong giới chính trị gia, mà trong đó họ tìm cái tương đồng giữa một kết luận nào đó và một khía cạnh của thế giới tự nhiên, rồi từ đó phát biểu rằng kết luận đó là không thể tránh khỏi. Chẳng hạn như “Đặc điểm của thế giới tự nhiên là cạnh tranh; động vật đấu tranh chống nhau để làm chủ tài nguyên thiên nhiên. Chủ nghĩa tư bản, một hình thức cạnh tranh để làm chủ tư liệu, chỉ đơn giản là một phần của con người sống trong thế giới tự nhiên. Đó cũng là cách mà thế giới tự nhiên vận hành.”

Một hình thức khác của lạm dụng thiên nhiên là lí luận cho rằng bởi vì con người là sản phẩm của thế giới tự nhiên, chúng ta phải bắt chước hành động theo những gì chúng ta thấy trong thế giới tự nhiên, và làm khác đi là “phi tự nhiên”. Ví dụ: “Đồng tính luyến ái dĩ nhiên là không tự nhiên.”

44. Ngụy biện “anh cũng vậy”. Đây là một trong những ngụy biện rất phổ biến. Nó dựa vào lí lẽ rằng một hành động có thể chấp nhận được bởi vì người đối nghịch đã làm. Chẳng hạn như “Anh là một người lừa dối.” “Rồi sao? Anh cũng là một tay lừa dối vậy.”

45. Lạm dụng thống kê. Thống kê thường được giới ngụy biện sử dụng tối đa, vì theo họ thống kê có thể dùng để “chứng minh” bất cứ điều gì. Người ta có thể vặn vẹo hai con số 1 và 3 điểm để sản xuất những phát biểu như “khác nhau 2 điểm”, “cao gấp 3 lần”, hay “tăng 200%”; người ta có thể dựa vào ý kiến đồng tình của 4 người trong 5 người để cho là “80% người được thăm dò”, hay thậm chí “đa số cộng đồng” đồng ý với một luận điểm nào đó. Tức là những khái quát hoá một cách vội vã, hay dựa vào một mẫu số cực kỳ thấp, thấp đến độ nó không có nghĩa lí gì. Thực ra, thống kê không chứng minh điều gì cả. Thống kê chỉ là một phương tiện hay thuật toán dùng để loại bỏ những trường hợp khả dĩ hay không khả dĩ. Vì có quá nhiều ngụy biện thống kê, nên vấn đề này sẽ được bàn tiếp trong một dịp khác.

Nhận xét

Có thể nói những loại ngụy biện trên đây có những đặc điểm chung là (a) phát biểu không dựa vào lí lẽ logic; (b) các định đề không vững để đi đến một kết luận; và (c) đưa ra giả định không đúng. Ngụy biện, do đó, nói cho cùng, là một sản phẩm của sự lười biếng suy nghĩ. Và hầu như trong chúng ta, ai cũng có ít nhất là một lần lười suy nghĩ. Do đó, nếu điểm qua những loại ngụy biện trên đây, chúng ta tự cảm nhận rằng trong quá khứ mình chắc cũng có lần phạm vào lỗi lầm của ngụy biện. Điều này có thể đúng, và không nên lấy làm ngạc nhiên, vì các nhà thông thái, và ngay cả giới có huấn luyện về logic học cũng đôi khi, vì cố ý hay vô tình, ngụy biện. Giới chính trị gia và truyền thông là những người cực kì nổi tiếng về ngụy biện.

Nhưng tại sao những ngụy biện vẫn còn có mặt trên báo chí? Theo tôi, bởi vì chúng vẫn có khách hàng. Vẫn có người, dù ít hay nhiều, tin tưởng vào ngụy biện, vì nó thuận nhĩ, trơn tru, và nhất là không thách thức. Sờ một hòn đá trơn tru đem lại cho chúng ta một cảm giác khoan khoái dễ chịu hơn là sờ một hòn đá lởm chởm, hay ngồi trên một cái ghế ghồ ghề. Người ta thích sự trơn tru, bởi vì trơn tru là dấu hiệu của sự khoan khoái, dễ chịu, là cái khoảng thời gian giải lao, không cần sự thách thức.

Có lẽ, ở một khía cạnh nào đó, điều này cũng không đến nỗi tệ, bởi vì những ngụy biện phản ánh sự thành công [hay có người nói sự phong phú] của ngôn ngữ trong việc tách rời giữa những gì thô thiển, gồ ghề với những gì hoàn thiện, mĩ miều. Nhưng sự trơn tru của các vật thể và ngôn ngữ ngày nay đem lại cho chúng ta một cảm giác giả tạo về thế giới thực của các vật thể. Những kì kẹt xe trên đường xá mới để lộ trái tim phức tạp của một thành phố. Tương tự, một sự cố của internet sẽ nhắc nhở chúng ta về tình trạng hỗn mang và phức tạp của hệ thống thông tin điện tử. Sự hỗn mang và phức tạp là thực. Trơn tru, tròn trĩnh có thể là giả tạo. Những câu văn ngụy biện có thể chỉ là những lời phát biểu lém lỉnh thay vì lịch thiệp, hàm chứa mánh khóe thay vì thân thiện. Có thể nói, ngụy biện là những lối sáo ngữ liến thoắng nhằm vào mục đích lôi cuốn người nghe/đọc, thay vì cung cấp cho họ một sự thực.

Bởi vì ngụy biện là những lí lẽ mà bề ngoài có vẻ logic, nên chúng có khả năng thuyết phục những người không chịu khó suy nghĩ, nhất là những người còn mang nặng cảm tính. Điều này giải thích tại sao nhiều người tiếp nhận một cách thụ động quá nhiều những điều quái gở về thế giới chung quanh, kể cả những niềm tin tôn giáo, những mê tín dị đoan, những triết lí quái đảng, những thông tin sai lạc, v.v.. Cái tác hại của việc tiếp nhận thụ động này là nó làm cho người ta trở nên nô lệ với cảm tính, và dễ dàng trở thành những tín đồ cuồng tín của những người “lãnh đạo” chính trị hay tôn giáo.

Để không trở thành những nô lệ, cần phải suy nghĩ nghiêm túc. Suy nghĩ nghiêm túc là một quá trình hoạt động tri thức nhằm ý niệm hóa, ứng dụng, phân tích, tổng hợp, và đánh giá những thông tin được thu thập từ quan sát, kinh nghiệm, phản ánh, lí luận, hay liên lạc, như là một niềm tin cho hành động. Cần phải dựa vào những giá trị tri thức với những đặc điểm như trong sáng, chính xác, nhất quán, có liên hệ, bằng chứng tốt, lí lẽ hợp lí, có chiều sâu, và công bằng. Tức là, trước một câu phát biểu hay một đề nghị, cần phải thẩm định lại kết cấu và nguyên tố của phát biểu hay đề nghị đó. Những kết cấu và nguyên tố này là: mục đích, vấn đề, giả định, quan niệm, bối cảnh, kết luận, ngụ ý, hậu quả, phạm vi tham khảo, và quan điểm khác.

Người Việt chúng ta thường rất tự hào về những đối thoại [mà chúng ta cho là “thông minh”] giữa Trạng Quỳnh và Chúa Trịnh ngày xưa. Nhưng nói một cách công bằng và theo tiêu chuẩn của lí luận logic, thì những trao đổi của Trạng Quỳnh hay tương tự chỉ là những ngụy biện ở trình độ thô sơ nhất. Nhưng có điều đáng buồn là những đối thoại kiểu Trạng Quỳnh, mà trong đó sự hơn thua nhau từng câu nói, bắt bẽ nhau từng chữ, vặn vẹo ý nghĩa của từng câu văn, v.v… lại đi vào sử sách, như thể để làm gương cho thế hệ sau này. Mà làm gương thật. Cho đến ngày nay, có người vẫn còn cho đó là một biểu tượng của sự thâm thúy, thông minh của dân tộc, là phản ánh sự phong phú của ngôn ngữ Việt, và đem ra ứng dụng trong tranh luận.

Theo dõi báo chí, chúng ta thấy những hình thức tấn công cá nhân (thay vì tấn công vào luận điểm), xuyên tạc ý tưởng, chụp mũ, suy luận theo cảm tính, mỉa mai, đơn giản hóa vấn đề, v.v… xuất hiện hầu như hàng ngày, có khi hàng giờ. Vì những tần số của những loại ngụy biện xuất hiện quá nhiều như thế, nó thành một sự rập khuôn. Theo thời gian, rập khuôn trở thành “truyền thống”. Hậu quả của cái truyền thống này là những ai ra ngoài cái khuôn sáo của ngụy biện đều có thể bị xem là phi chính thống, dẫn đến một lối suy nghĩ và phán xét kì quặc kiểu “anh/chị không thuộc nhóm của tôi, vậy thì anh/chị thuộc nhóm bên kia,” “anh chê ‘quốc gia’, vậy anh phải là cộng sản,” “anh khen Việt Nam, vậy anh là cộng sản,” “giọng nói anh ‘Bắc kỳ 75’, vậy anh là cộng sản,” hay “Nhà nước cho anh ra ngoài này trình diễn, chắc anh là cộng sản đi tuyên truyền”… Anh ở phía này, tôi bên kia. Nói tóm lại, đó là một lối phân định theo hai giá trị: xấu và tốt, đen và trắng, hay địch và ta một cách cứng nhắc. Cách phân định này thể hiện một sự nghèo nàn về trí tuệ, hay lười biếng suy nghĩ. Chỉ cần đặt vấn đề ngược lại một chút, hay phát triển vấn đề xa hơn một chút, ai cũng có thể thấy lối phân chia có/không này không thể đem đến một đáp số cho một vấn đề nào cả.

Trong cái sự thực phức tạp, mờ mờ ảo ảo của vấn đề, có cái đẹp riêng. Không phải cái đẹp trơn tru, tròn trĩnh, nhưng là cái đẹp khắt khe của sự thật. Tương tự, một lời phát biểu nghịch lí có cái đẹp của nó, vì nó có thể đánh thức chúng ta về một thế giới phức tạp, một thế giới không nằm gọn trong đúng/sai, tốt/xấu, bạn/thù. Có lẽ đã đến lúc chúng ta nên vượt qua chính mình bằng cách cho các tế bào trí tuệ có cơ hội làm việc.

BTĐ

Saturday, 21 January 2012

589. Nghe tiếng Tết ngày xưa

Nghe tiếng Tết ngày xưa

Đình Dũng
Thứ Bảy,  21/1/2012, 22:33 (GMT+7)
Phóng to

Thu nhỏ


Add to Favorites


In bài


Gửi cho bạn bè
Hình ảnh một thời đã qua - TL.

(TBKTSG Online) - Tiếng nổ đì đùng từ gian hàng kế bên khiến cô gái trạc 4 tuổi tò mò hỏi: Tiếng gì vậy ba? À, đó là tiếng pháo, ba cô bé trả lời. Pháo là gì hả ba? Tại sao nó lại kêu được vậy? Tại sao... Ba cô bé bắt đầu giải thích cho con trẻ khái niệm mà có lẽ lần đầu tiên trong đời nó được nghe.

Nhìn dây pháo điện tử dài cả mét với các viên pháo màu đỏ to gần bằng cổ tay, không chỉ có cô bé tò mò mà nhiều người cũng phải quay về phía gian hàng này khi thỉnh thoảng nghe tiếng nổ được khuếch đại bằng cặp loa, lấn lướt các âm thanh lẫn lộn khác phát ra từ các gian hàng trong hội chợ hoa xuân tại khu đô thị Phú Mỹ Hưng, quận 7, TPHCM.

Tiếng hỏi của bé trong khung cảnh thấm đẫm chất quê mộc mạc với hoa, với đồng lúa, với vườn bắp giữa chốn phồn hoa đô hội, khiến ba cô bé bất giác nghe trong không khí mùi nồng nồng của hương vị quen quen, thấy cay cay trong khóe mắt làn khói cay ngày nào, và thấy vọng về trong ký ức của mình âm thanh của hơn 20 năm trước – thời mà tiếng đì đùng của pháo là âm thanh không thể thiếu trong đêm giao thừa.

Đã có một thời người ta tiễn năm cũ đi và đón năm mới về bằng tiếng nổ của pháo đại, pháo trung, pháo chuột và nhiều loại khác. Người thích thì nói tiếng nổ của pháo rộn ràng, làm con người hưng phấn với hương xuân; còn kẻ không ưa thì coi những âm thanh chỉ ồn ào, vì không có pháo xuân vẫn sang đấy thôi!

Tết xưa nhuốm màu xác pháo đỏ trong sân, ngoài cổng, và thậm chí người ta chứng tỏ sự giàu sang của mình qua độ dài của băng pháo. Người nhiều tiền thì khoe băng pháo dài vài mét, còn kẻ ít tiền thì cũng ráng tìm băng pháo dài cỡ gang tay đốt cho có với người ta.

Với đám con trai choai choai ngày ấy thì pháo có sắc màu riêng. Nhiều khi đó là cách chứng tỏ sự lì lợm của mình qua việc châm ngòi pháo rồi đợi pháo sắp nổ mới quăng đi. Chính cái trò này đôi khi được con gái phong lên làm ‘quỷ’. Viên pháo được xé ngòi, búng bớt thuốc để khi đốt không nổ ngay mà cháy từ từ. Đám con trai đợi con gái đi ngang qua, đốt rồi quăng vào chân cô gái. Nhiều cô giật bắn người vì tiếng nổ ngay dưới chân mình, vội đưa mắt nhìn đám con trai đang cười hí hí chửi: Đồ quỷ! Nhiều khi chửi xong lại bẽn lẽn cười với ‘đám quỷ’ đó. Ngày xưa nghèo nhưng người ta ăn tết dài, hết mùng (hết mùng 10) mới chịu thôi, và do vậy pháo cũng nổ trong thời gian ấy.

Mà đâu chỉ có dịp tết, ngày thường người ta cũng nghe được âm thanh ấy. Nghe tiếng pháo nổ, người ta biết ngay là đâu đó có đám cưới. Tiếng pháo nổ góp vui cho niềm vui hai họ, nhưng nhiều khi nó cũng là nỗi buồn của kẻ đang tan nát cõi lòng theo xác pháo khi người yêu người yêu đi lấy người khác!

Sắc thái vui buồn của pháo cũng đã được người ta đưa vào thơ, vào nhạc, và dùng nó với môt nghĩa tượng trưng nào đó. Thực tế, pháo cũng đem đến không ít đau thương cho nhiều người. Hồi đó, năm nào chả nghe có tai nạn vì pháo. Người làm ra nó bị nạn, và người chơi nó cũng bị thương. Không ít kẻ trong đám choai choai ngày ấy bị nám tay, thậm chí rách bàn tay vì không kịp ném đi viên pháo đã tới lúc nổ.

Chính vì sự nguy hiểm này, Việt Nam đã cấm sản xuất và đốt pháo kể từ đầu năm 1995. Kể từ đó, không khí đêm giao thừa là những đám đông ngửa cổ lên trời nhìn pháo bông nổ thành chùm rồi rơi xuống; trong khi đó những người ở nhà dán mắt vào tivi theo dõi những tia sáng vụt lên không trung rồi tản ra với nhiều hình dạng và nhiều sắc màu. Ở một vài nơi, khoảnh khắc đêm giao thừa được điểm bằng tiếng chuông nhà thờ, tiếng chuông chùa thay tiếng pháo nổ năm xưa.

Xuân vẫn sang, tết vẫn đến dù pháo không nổ trong 17 năm qua. Bất chấp những khó khăn của năm cũ và cho dù viễn cảnh kinh tế sắp tới có màu gì đi chăng nữa, người ta vẫn đang hối hả đón tết và chơi xuân.

Tiếng pháo năm xưa nay được mô phỏng lại trong tiếng loa điện tử (cũng giống như người ta lấy kim đâm vào chùm bong bóng giả tiếng pháo trong ngày tân hôn). Có thể cô bé kia đã phần nào hiểu được tại sao pháo nổ qua giải thích của ba mình, nhưng có lẽ nó sẽ không cảm nhận được mùi pháo trong đêm giao thừa và trong mấy ngày tết như ba nó, và chắc chắn nó sẽ chẳng bao giờ có dịp chửi kẻ nào đó là ‘đồ quỷ’ khi giật mình vói tiếng pháo nổ ngay dưới chân mình.

Monday, 16 January 2012

588.Vài câu hỏi về vụ Đoàn Văn Vươn

Ghi chú: Đây là bản đã được biên tập và sửa soạn đăng của một tờ tạp chí, có trang mạng, nhưng rồi không rõ vì sao không đăng nữa và lịch sự gửi lời xin lỗi đến tác giả. Sắp Tết rồi, chắc là ai cũng muốn có những ngày quần tụ vui vẻ bên người thân, làng báo cũng vậy, không muốn như đại gia đình ông Vươn.

Vài câu hỏi về vụ Đoàn Văn Vươn 

Nguyễn Quang A 

Năm 2012 mở đầu bằng một vụ cưỡng chế thu hồi đất tai họa. Tại cống Rộc, xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng, Hải Phòng, bốn công an và hai bộ đội tham gia thi hành cưỡng chế thu hồi đất ngày 5-1-2012 đã bị mìn tự tạo và súng săn của những người bị thu hồi đất làm trọng thương. Ngày 7-1-2012 Cơ quan cảnh sát điều tra Hải Phòng đã khởi tố vụ án “giết người và chống người thi hành công vụ”.

Đây là một vụ hết sức nghiêm trọng, sẽ đi vào lịch sử tư pháp Việt Nam và chắc chắn sẽ gây nhiều tranh cãi và tác động sâu sắc đến luật đất đai sắp tới.

Bài này chỉ  nêu ra vài câu hỏi dựa trên những thông tin do báo chí  cung cấp để góp phần vào cuộc tranh luận đó nhằm tránh những sự cố đáng tiếc như vụ cưỡng chế thu hồi đất này.

Trước khi nêu ra các câu hỏi đó, cần tóm tắt các sự kiện do báo chí đưa cho đến 13-1-2012.

Theo đó, anh Đoàn Văn Vươn, một người lính, một kỹ sư nông lâm, khi ra quân năm 1986, đã trở về địa phương lấn biển, trồng cây, đắp đê để tạo thành hồ nuôi trồng thuỷ sản. Nhiều năm trời, Đoàn Văn Vươn cùng anh em họ hàng đã vật lộn với biển, bão tố và quần quật lao động đưa hơn 20.000 m3 đất, đá về để lấn, cải tạo biển thành đầm nuôi tôm. Anh đã mất đứa con gái yêu 8 tuổi chính tại nơi đây.

Trong cuộc họp báo ngày 12-1-2012 của Ủy Ban Nhân Dân thành phố  Hải Phòng, ông Lê Văn Hiền chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng cho biết: năm 1993, huyện chỉ giao 21 ha đất bãi bồi ven biển cho ông Vươn, sau đó ông Vươn lấn ra biển thêm 19,3 ha phía ngoài, rồi đề nghị hợp thức hóa, được huyện ra quyết định giao đất bổ sung.

Như thế  tổng cộng huyện đã giao cho anh Vươn 40,3 ha.

Theo ông Bùi Quang Sản, Giám đốc Sở TN&MT TP Hải Phòng, huyện Tiên Lãng giao 21ha đất bãi bồi cho ông Vươn vào ngày 4-10-1993 trước khi Luật Đất đai 1993 có hiệu lực (15-10-1993) và theo ông là căn cứ vào Luật Đất đai năm 1987. Còn khu đầm 19,3 ha của ông Vươn được UBND huyện Tiên Lãng ra quyết định giao đất vào năm 1997. 

Theo Người Lao Động, hết thời hạn, UBND huyện ra quyết định thu hồi khu đầm này. Sau đó, các hộ dân đã khởi kiện ra TAND huyện Tiên Lãng yêu cầu hủy quyết định thu hồi diện tích đầm trên. Tháng 11-2009, TAND huyện mở phiên sơ thẩm, bác đơn khởi kiện của các hộ dân.

Các hộ  dân này đã kháng cáo lên TAND TP Hải Phòng. Trong quá  trình thụ lý vụ  án, ngày 9-4-2010, thẩm phán Ngô  Văn Anh đã lập “biên bản tạo  điều kiện cho các đương sự  tự thỏa thuận với nhau về  việc giải quyết vụ án”  có đóng dấu của TAND TP Hải Phòng. Theo biên bản này, ông Đoàn Văn Vươn sẽ rút  đơn kiện, còn UBND huyện Tiên Lãng đồng ý cho ông Vươn và  các hộ dân tiếp tục thuê  lại đầm. Tuy nhiên, vừa qua, UBND ra quyết  định thu hồi đất của  ông Vươn và tổ chức cưỡng chế  vào ngày 5-1.” 

Ông chủ tịch huyện Tiên Lãng thừa nhận “ngôi nhà bị phá sập nằm trong phần diện tích đầm chưa bị cưỡng chế nhưng là nơi chủ đầm tấn công lực lượng cưỡng chế”. Nói cách khác các lực lượng cưỡng chế đã tiến vào khu vực không bị cưỡng chế, và việc nổ mìn, bắn súng đã xảy ra trên phần đất đó, chứ hoàn toàn không phải trên phần đất của anh Vươn mà chính quyền muốn cưỡng chế.

Vấn  đề mấu chốt ở đây là phải rạch ròi giữa  đất công (do nhà nước hay một cộng đồng sở  hữu) và đất tư (do các cá nhân hay các tổ  chức của họ sở hữu).

Theo luật tự nhiên, đất hoang được ai khai phá là đất của người ấy. Người dân có thể sở hữu  đất bằng cách khai khẩn đất vô chủ, mua hay nhận chuyển nhượng đất đã có chủ (từ  các chủ trước mà có thể nhà nước, cộng đồng hay các cá nhân khác). Theo luật tự nhiên, đầm do người dân lấn biển để nuôi trồng thủy sản ở xã Vinh Quang, Tiên Lãng phải thuộc sở hữu của họ.

Nói như  thế không có nghĩa là các cá nhân có  thể xâm phạm đất đã có chủ (dù  là của nhà nước hay của các chủ khác); khi họ khai khẩn đất được cho là đất hoang (nếu không có chủ sở hữu nào khác chứng minh đất đó thuộc sở hữu của mình) thì nhà nước phải thừa nhận đất hoang được họ khai khẩn là đất của họ. Đất do nhà nước sở hữu cũng phải có hồ sơ quyền sở hữu như của cá nhân và cộng đồng, thí dụ đất của phủ chủ tịch cũng phải có hồ sơ (sổ đỏ) giao cho một cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước nhất định (Văn phòng chủ tịch nước chẳng hạn) và phải được lưu trữ trong hồ sơ của cơ quan quản lý đất đai giống như đất thuộc sở hữu khác.

Đáng tiếc từ các năm 1980 đến nay nhà nước Việt Nam quy định “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý” ngược với luật tự nhiên mà luật pháp của hầu hết các nước (kể cả Việt Nam trước kia) đều chấp nhận (tức là thừa nhận sở hữu tư nhân về đất và có sự phân định rạch ròi giữa đất công và đất tư). Đấy là điểm mấu chốt (bên cạnh việc nới rộng hạn điền để khuyến khích tích tụ ruộng đất) mà luật đất đai (sửa đổi hay mới) phải nên đưa vào.

Dưới đây, chúng ta bám theo các luật đất đai hiện hành, bất chấp sự thiếu sót nghiêm trọng nêu trên mà luật đất đai mới phải sửa đổi, để nêu ra vài câu hỏi.

  1. Rành rành chủ tịch huyện Tiên Lãng đã vi phạm các luật đất đai hiện hành: huyện không được phép giao diện tích đất lớn như vậy theo bất cứ luật đất đai hiện hành nào. Hạn mức đất nêu trong các luật đó quá nhỏ không phù hợp với và cản trở sự phát triển của sản xuất và hiện đại hóa. Luật đã lạc hậu và tất cả các cơ quan nhà nước đều đã ngầm cho phép vượt rào về hạn mức. Và sự vi phạm này của các cơ quan nhà nước lại đáng hoan nghênh và lỗi hoàn toàn thuộc về Quốc Hội do đã chần chừ trong việc bãi bỏ hay nới rộng hạn mức.
  2. Rành rành chủ tịch huyện Tiên Lãng đã vi phạm quy định về thời hạn giao đất: theo Điều 20 Luật Đất Đai 1993 và Điều 67 của Luật Đất Đai 2003, thời hạn giao đất để nuôi trồng thủy sản là 20 năm, chứ không hơn, không kém.
  3. Và theo quy định của luật thì thời hạn của 21 ha phải đến 2014 mới hết 20 năm (không thể vin vào lý do giao đất 11 ngày trước khi Luật 1993 có hiệu lực vì khi đó chủ tịch huyện còn phạm tội cố ý lách luật do Luật này được ban hành ngày 14-7-1993 và có hiệu lực vào ngày 15-10-1993 và 11 ngày sau cũng phải hiệu chỉnh thời hạn); và thời hạn của 19,3 ha đất được giao năm 1997 phải đến 2018 mới hết hạn. Đó là chưa nói đến diện tích hồ do người dân lấn biển tạo ra mà thực chất phải thuộc quyền sở hữu của người khai phá có được coi là đất hay không, có thuộc phạm vi quy định của các luật đất đai hay không. Hơn nữa, chỉ được thu hồi đất theo Điều 26 và 27 của Luật đó (hay Điều 39 của Luật Đất Đai 2003) mà rõ ràng theo các điều này thì không thể thu hồi như quyết định của chủ tịch huyện Tiên Lãng.

Dựa vào thông tin diễn biến và 3 điểm nêu trên có thể  nêu ra vài cấu hỏi như sau:

  1. Tại sao không xử lý chủ tịch huyện Tiên Lãng về những sự vi phạm pháp luật rành rành nêu ở điểm 2 và 3 kể trên trong suốt thời gian rất dài? Tại sao những kẻ lộng hành và thiếu hiểu biết về pháp luật lại được đưa vào các chức vụ quan trọng như vậy? Các nhà chức trách của thành phố Hải Phòng và trung ương tại sao đã không xử lý?
  2. Tại sao chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng lại muốn thu hồi hơn 40 ha của anh Vươn để chia nhỏ rồi giao cho những người khác? Vì việc chia nhỏ không phù hợp với sự phát triển của kinh doanh nuôi trồng, phá hoại sản xuất. Và những người khác này là ai? Liệu có sự cấu kết giữa ông anh chủ tịch UBND huyện và ông em chủ tịch UBND xã? Việc thu hồi không đền bù là sự cướp đoạt tài sản một cách trắng trợn và trái luật và ông chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng có phạm tội lạm quyền?
  3. Liệu quyết định thu hồi đất của chủ tịch huyện Tiên Lãng là trái luật? (Theo các thông tin nêu ở các điểm 2 đến 3 kể trên, thì quyết định thu hồi đất là hoàn toàn trái luật và việc người dân kiện chính quyền và việc tòa yêu cầu 2 bên hòa giải là minh chứng rõ ràng về sự vi phạm luật đó của chính quyền; chúng ta không bàn ở đây về chuyện “hòa giải” và biên bản hòa giải của tòa án, cũng như hành xử của chính quyền sau đó).
  4. Nếu quyết định thu hồi đất là trái luật, thì việc cưỡng chế thu hồi đất là trái luật và trong trường hợp đó những người tham gia cưỡng chế có thể được coi là “những người thi hành công vụ” hay không? Việc lực lượng cưỡng chế tiến vào đất không bị cưỡng chế đã minh chứng rõ ràng về việc làm sai trái của họ và như thế khó có thể gọi họ là những người “thi hành công vụ” mà phải gọi là “những kẻ lạm hành công vụ”. Và nếu như vậy thì quyết định khởi tố vụ án “chống người thi hành công vụ” liệu có trái luật hay là sự lạm quyền?
  5. Tại sao bộ đội lại tham gia? Nếu bộ đội công binh được huy động để gỡ mìn chỉ sau khi mìn đã nổ thì còn có thể hiểu được. Nếu bộ đội được huy động để tham gia cưỡng chế từ đầu, thì không thể chấp nhận được; quân đội không được phép làm việc đó; sứ mạng của quân đội là chống ngoại xâm chứ không được tham gia giải quyết tranh chấp dân sự; trong trường hợp này phải đưa người đã lệnh cho bộ đội tham gia cưỡng chế ra trước tòa án binh. Bộ Quốc phòng phải làm rõ các vấn đề này để nhân dân được biết và nếu sai (tức là bộ đội được huy động từ đầu) thì phải xử lý nghiêm những kẻ vi phạm để bảo vệ uy tín của quân đội.
  6. Tại sao những người cưỡng chế lại mang vũ khí tiến vào khu nhà 2 tầng của anh Đào Văn Quý mà khu vực đó không phải là khu vực bị chính quyền thu hồi? Hành động đó có vi phạm chủ quyền của chủ nhà và các quyền công dân khác? Theo tôi là có, và vì thế họ không được coi là những người thi hành công vụ và hành động chống trả phải được xem là phòng vệ chính đáng.

Theo tôi, nguyên nhân chính của vụ đáng tiếc xảy ra ngày 5-1-2012 tại cống Rộc, Quang Vinh, Tiên Lãng, Hải Phòng là những sự vi phạm luật liên tiếp của chủ tịch huyện Tiên Lãng như nêu ở trên và trong các câu hỏi ở các điểm 4-7 và điểm 9 ở trên, cũng như sự vi phạm luật của chính quyền trong việc ra quyết định cưỡng chế và tổ chức cưỡng chế. Những người lộng hành và vi phạm luật như ông chủ tịch huyện phải bị trừng trị. Chính sự lộng quyền, sự vi phạm pháp luật trắng trợn của người đứng đầu huyện Tiên Lãng đã đẩy gia đình anh Vươn vào bước đường cùng.

Và khi xem xét hành động đáng tiếc của anh Đào Văn Quý (người đã bắn) phải lưu ý đến bối cảnh ấy.

  1. Theo điểm 7 và 9 nêu trên, liệu hành động chống trả của anh Đào Văn Quý có phải là hành vi “phòng vệ chính đáng” hoặc hành vi “vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng” theo Điều 15 của Bộ Luật Hình sự?
  2. Tại sao Hội Nông Dân và Hội cựu chiến binh không can thiệp để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các hội viên của mình trong suốt thời gian tranh chấp cũng như sau khi vụ việc đã xảy ra? Hay tổ chức xã hội dân sự nào có thể giúp những người cựu chiến binh và nông dân bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình trước sự lộng hành của các quan chức địa phương?

Để trả lời cho các câu hỏi trên không thể giao cho chính quyền Hải Phòng xem xét, như việc Bộ Tài nguyên môi trường giao cho sở Tài nguyên môi trường làm rõ, mà các cơ quan trung ương phải nhanh chóng vào cuộc.

Và có  thể còn phải đặt ra nhiều câu hỏi khác, thí  dụ vai trò và trách nhiệm của Quốc Hội  đến đâu?

Vụ đáng tiếc ở Tiên Lãng ngày 5-1-2012 là vụ hết sức nghiêm trọng. Chúng ta chờ xem Quốc Hội, Chính phủ và các cơ quan tư pháp hành xử ra sao. Nếu dung túng các quan chức địa phương, không nghiêm trị các hành vi phạm pháp luật của họ, nếu xử không công bằng đối với những người vừa bị bắt, thì hậu quả có thể rất khó lường.

N.Q.A

Cáo lỗi bà con … Hì hì! Bữa nay sao nhiều “cáo lỗi” quá, chắc do ngày Ông Công Ông Táo? Hồi sáng đăng bài bị sơ sót, số thứ tự bị sai (các số 10, 11 lại thành 1, 2). Độc giả phát hiện, xin sửa lại cho đúng (18h).

Sunday, 15 January 2012

Năm 2012 này, Việt Nam sẽ xuất siêu?

587.BẠO LỰC ĐỎ

BẠO LỰC ĐỎ

Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo

Nhìn ngược về lịch sử, những cuộc khởi nghĩa nông dân đều nổ ra bởi sự áp bức của quyền lực trị vì, bóc lột, cướp công cướp của. Vụ nổi dậy của nông dân Thái Bình cuối thế kỷ trước đã lật đổ nhiều quan chức từ thôn xã đến huyện tỉnh. Và giờ đây, cuộc nổi dậy của gia đình Vươn nông dân cũng chỉ lặp lại như vậy mà thôi.

Có một thời chúng ta nói nhiều tới chuyên chính vô sản. Từ ông Lenin tới ông Stalin. Từ ông Mao đến ông Đặng. Từ ông A đến ông Z… Và máu đỏ nhuộm dân đen.

Thiên An Môn đẫm máu

Máu. Máu. Và máu…

“Máu người không phải nước lã!!!”. Ai cũng biết điều đó.

Nhưng hôm nay chúng ta vẫn phải hàng ngày chứng kiến máu đổ. Máu đổ ở đâu xa?, ở ngay bên ta đấy thôi.

Chiến tranh, chết vì bom đạn đối phương. Hòa bình, chết vì bất đồng chí hướng. Học trò chết vì lời mắng của thầy cô. Bạn bè chết vì ghen tuông, hiềm tị. Đồng chí chết vì tham ô hủ hóa. Dân chết vì kẹt xe, kẹt đường sống, chết vì bọn “xã hội đen” hoành hành như chốn không người. Và chết vì quyền lực.

Quyền lực đồng tiền đổi trắng thay đen. Quyền lực xã hội đổi bạn thành thù. Quyền lực dùng bạo lực. Quyền sống cũng dùng bạo lực. Nhưng không gì đáng sợ hơn khi chính quyền dùng bạo lực với dân thường.

Vụ nông dân Đoàn Văn Vươn ở Tiên Lãng Hải Phòng là một đỉnh điểm của thời bạo lực đỏ. Một vụ trấn áp bằng “chuyên chính vô sản quá đà” đã đẩy tới máu đổ, khiến ai cũng bang hoàng đến hoảng sợ. Nhưng tội ác chưa dừng khi kẻ chống lại chuyên chính bị còng tay. Tội ác tiếp tục phơi bày khi ngôi nhà của tội phạm bị san bằng mà không còn ai trong đó. Thời quân giải phóng tiến vào Sài gòn cũng không làm như thế với những ngôi nhà của kẻ thù đã đầu hàng hay tháo chạy. Nhưng chính quyền Tiên Lãng đã làm điều đó với chính người dân của mình. Có thể nói, đó là hành động của “bạo lực đỏ”.

Chưa nói đúng sai, chỉ nói về sự phản ứng manh động của người nông dân Đoàn Văn Vươn khi thấy mình bị dồn vào bước đường cùng, cũng đủ hiểu bạo lực đỏ đang hoành hành thế nào. Người nông dân ấy biết mình không thể thắng được chính quyền, nhưng họ đã bị buộc phải lựa chọn “mù quáng” như người ngoài cuộc vẫn nghĩ. Sự “mù quáng bắt buộc” ấy không chỉ dạy cho chính họ bài học đắt giá, mà chính là họ muốn dạy cho quyền lực một bài học thức tỉnh lương tri.

Nhìn ngược về lịch sử, những cuộc khởi nghĩa nông dân đều nổ ra bởi sự áp bức của quyền lực trị vì, bóc lột, cướp công cướp của. Vụ nổi dậy của nông dân Thái Bình cuối thế kỷ trước đã lật đổ nhiều quan chức từ thôn xã đến huyện tỉnh. Và giờ đây, cuộc nổi dậy của gia đình Vươn nông dân cũng chỉ lặp lại như vậy mà thôi.

Và máu đã đổ.

Lực lượng CA và quân đội cưỡng chế khu đất của Vươn nông dân

Tôi ngước nhìn lên cao hơn, xem có ông quan to nào đang rình rập áp bức dân? Tự nhiên tôi nghĩ đến ông bộ trưởng giao thông đang lồng lộn kiên quyết “móc túi” dân với dự án thu tiền xe lưu thông để xây hạ tầng? Cứ làm như xe đang lưu thông chưa bao giờ bị đánh thuế! Cứ làm như từ xưa và cả tương lai nữa, nhà nước sẽ không có ngân sách để đổ vào giao thông. Vậy đường sá, cầu cống, sân bay, hải cảng… chẳng lẽ tự nhiên mà có? Hàng trăm thứ thuế của dân (chứ đâu phải của mấy ông chính phủ) đã đổ vào đấy, và đổ vào túi của bọn quan tham nữa mới có đường sá, cầu cống, sân bay, hải cảng… cho quốc kế dân sinh, và cho chính các ông bay đi bay về sớm tối. Nếu cai quản một bộ tiêu tiền như nước mà chỉ tư duy như một trưởng thôn thì liệu dân có còn tin quan nữa hay không?

Vẫn biết có quyền thì có lực, nhưng khi cái quyền lực trở nên độc tài thì nó chính là bạo lực.

Nếu chúng ta đang lo ngại về nạn “bạo lực học đường”, thì chính chúng ta còn lo ngại hơn rất nhiều về nạn “bạo lực đỏ” – bạo lực quan.

Nếu không hạn chế được nạn “bạo lực đỏ” thì máu dân lành vẫn đổ. Và có thể, cả máu của quan nữa.

Thiện tai! Thiện tai!…

1.2012

N.T.T.

Nguồn:  Blog Nguyễn Trọng Tạo

Thursday, 12 January 2012

586.Cần khởi tố ngay vụ án hình sự về hành vi hủy hoại tài sản trong vụ cưỡng chế tại huyện Tiên Lãng – thành phố Hải Phòng


Luật sư Trần Vũ Hải

Trong cuộc họp báo tối ngày 12/01/2012 tại trụ sở UBND thành phố Hải Phòng, ông Lê Văn Hiền – Chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng thừa nhận ngôi nhà ông Vươn bị đánh sập, không nằm trong diện tích đất bị cưỡng chế. Lý do đánh sập theo ông Lê Văn Hiền do là nơi trú ngụ của đối tượng chống cưỡng chế.

 Nếu đúng vậy, đã có đủ yếu tố cấu thành hành vi cố ý hủy hoại tài sản của công dân (hủy hoại tài sản của gia đình công dân Đoàn Văn Vươn), phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 143 Bộ luật hình sự (BLHS). Chúng tôi đề nghị Cơ quan pháp luật Việt Nam khởi tố ngay vụ án hình sự để điều tra làm rõ hành vi hủy hoại tài sản trên. Cần làm rõ về những người đã ra lệnh, đánh sập ngôi nhà. Đồng thời cần mở rộng vụ án để xem xét việc thu hồi, cưỡng chế, giải quyết khiếu nại, khởi kiện có đúng pháp luật hay không? Hành vi trái pháp luật nào cần phải xem xét trách nhiệm hình sự? có thể theo những tội danh sau:

  1. Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi thành công vụ – Điều 281 BLHS
  2. Tội lạm dụng quyền trong khi thi hành công vụ – Điều 282 BLHS.
  3. Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng –Điều 285 BLHS.
  4. Tội vi phạm các quy định về quản lý đất đai – Điều 174 BLHS.

Do lực lượng Công an thành phố Hải Phòng tham gia trực tiếp vào việc cưỡng chế  (theo ông Giám đốc Công an Hải Phòng – Đỗ Huy Ca), nên Cơ quan điều tra thuộc Bộ Công an cần trực tiếp điều tra vụ này. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Hội Nông dân Việt Nam, các Đại biểu quốc hội tại thành phố Hải Phòng (trong đó có Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng) cần thực hiện giám sát hoạt động của các Cơ quan tiến hành tố tụng trong việc điều tra truy tố xét xử vụ án này theo Điều 32 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Chúng tôi đề nghị các nhà báo, luật sư và các công dân khác lên tiếng yêu cầu các Cơ quan của thành phố Hải Phòng và các Cơ quan pháp luật làm rõ, điều tra vụ việc cưỡng chế tại huyện Tiên Lãng, góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng của những người lao động (trong đó có đại gia đình ông Đoàn Văn Vươn), thực hiện đúng theo Luật Đất đai và nếu thấy Luật Đất đai chưa đảm bảo quyền lợi đầy đủ cho những người nông dân, đề nghị Quốc Hội nhanh chóng sửa đổi Luật Đất đai theo hướng này.

T.V.H.

Câu hỏi thường gặp nhất năm 2011 “Nếu có ít tiền nên làm gì là tốt nhất?…Câu trả lời nửa đùa nửa thật của nhiều nhà kinh tế là: Có tiền thì cứ tiêu đi cho thoải mái!” (Nguyễn Vạn Phú).

Wednesday, 11 January 2012

585.Bắn vào Sheriff

Bắn vào Sheriff

Nguyễn Quang A

Ngay những ngày đầu năm 2012 dư luận chứng kiến một vụ cưỡng chế thu hồi đất có hậu quả tai họa. Tại xã Bắc Hưng, huyện Tiên Lãng, Hải Phòng, sáu công an và cán bộ thi hành cưỡng chế thu hồi đất ngày 5-1-2012 đã bị mìn tự tạo và súng săn của những người bị thu hồi đất làm trọng thương. Ngày 7-1-2012 Cơ quan cảnh sát điều tra Hải Hòng đã khởi tố vụ án “giết người và chống người thi hành công vụ” và đã bắt tạm giam 6 người.

Vụ này chắc sẽ còn được bàn luận nhiều và chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến việc sửa đổi Luật Đất Đai.

Theo tác giả Quang Trung trên Đời Sống và Pháp Luật, anh Đoàn Văn Vươn, một người lính, một kỹ sư nông lâm, khi ra quân năm 1986, đã trở về địa phương lấn biển, tạo hành lang bảo vệ để lấy diện tích khai thác nuôi trồng thuỷ sản. Nhiều năm trời, Đoàn Văn Vươn cùng anh em họ hàng đã vật lộn với biển, bão tố và quần quật lao động đưa hơn 20.000 m3 đất, đá về để lấn, cải tạo biển thành đầm nuôi tôm, và nhờ đó gần 70 ha rừng vẹt ngăn sóng biển đã bám trụ thành công. Anh đã mất đứa con gái yêu 8 tuổi chính tại nơi đây. Vài dòng cuối của tác giả Quang Trung như báo hiệu điềm dữ: “Những việc anh làm có trời biết, đất biết. Còn việc đời và mất mát của anh, tôi cũng chỉ chia sẻ được phần nào. Bởi có những lúc, lòng người còn dậy sóng hơn biển cả. Đứng với anh trên con đê nơi có cống Rộc, phóng tầm mắt nhìn ra, ngút ngát một mầu xanh,  mầu xanh tươi từng thấm đẫm cả máu, mồ hôi và công sức. Phía xa hình như đang có một cơn giông…

Và cơn giông định mệnh đã đến ngày 5-1-2012.

Theo Người Lao Động, “năm 1994, một số hộ dân, trong đó có hộ ông Vươn, được UBND huyện Tiên Lãng giao đất để nuôi trồng thủy sản với thời hạn 14 năm. Hết thời hạn, UBND huyện ra quyết định thu hồi khu đầm này. Sau đó, các hộ dân đã khởi kiện ra TAND huyện Tiên Lãng yêu cầu hủy quyết định thu hồi diện tích đầm trên. Tháng 11-2009, TAND huyện mở phiên sơ thẩm, bác đơn khởi kiện của các hộ dân.

Các hộ dân này đã kháng cáo lên TAND TP Hải Phòng. Trong quá trình thụ lý vụ án, ngày 9-4-2010, thẩm phán Ngô Văn Anh đã lập “biên bản tạo điều kiện cho các đương sự tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án” có đóng dấu của TAND TP Hải Phòng. Theo biên bản này, ông Đoàn Văn Vươn sẽ rút đơn kiện, còn UBND huyện Tiên Lãng đồng ý cho ông Vươn và các hộ dân tiếp tục thuê lại đầm. Tuy nhiên, vừa qua, UBND ra quyết định thu hồi đất của ông Vươn và tổ chức cưỡng chế vào ngày 5-1.”

Qua những thông tin trên có thể thấy anh Vươn đã khai hoang, lấn biển từ trước khi có Luật Đất Đai năm 1987 và khá lâu trước Luật đất đai 1993 và 2003.

Điều 5 của Luật 1993 này nêu rõ Nhà nước khuyến khích người sử dụng đất đầu tư lao động, vật tư, tiền vốn và áp dụng các thành tựu khoa học – kỹ thuật vào các việc…khai hoang, vỡ hoá, lấn biển, phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, đất cồn cát ven biển để mở rộng diện tích đất sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản và làm muối”. Điều 12 của Luật Đất Đai (2003) cũng khuyến kích tương tự về “khai hoang, phục hoá, lấn biển, đưa diện tích đất trống, đồi núi trọc, đất có mặt nước hoang hoá vào sử dụng”.

Như thế, lẽ ra chính quyền đã phải cấp quyền sử dụng lâu dài (20 năm, theo Điều 20 Luật 1993 hay Điều 67 Luật 2003) cho anh Vươn và những người như anh chứ không phải 14 năm vì giao 14 năm như thế là chính quyền đã vi phạm luật. Nếu đã giao 20 năm, thì đến 2014 mới đến hạn và ngay cả khi đó chính quyền cũng chỉ được thu hồi theo Điều 26 và 27 của Luật đó (hay Điều 39 của Luật Đất Đai 2003).

Có thể thấy trong vụ này cần làm rõ quyết định thu hồi đất do người dân lấn biển để nuôi trồng thủy sản liệu có đúng pháp luật hay không. Người dân, trong đó có anh Vươn, đã dùng các phương tiện pháp lý để kiện, để kháng án, và những việc này cũng phải làm rõ trước công luận.

Vấn đề mấu chốt ở đây là phải rạch ròi giữa đất công (do nhà nước hay một cộng đồng sở hữu) và đất tư (do cá nhân sở hữu).

Theo luật tự nhiên, đất hoang được ai khai phá là đất của người ấy. Người dân có thể sở hữu đất bằng cách khai khẩn đất vô chủ, mua hay nhận chuyển nhượng đất đã có chủ. Theo luật tự nhiên, đầm do người dân lấn biển để nuôi trồng thủy sản ở Bắc Hưng, Tiên Lãng phải thuộc sở hữu của họ.

Đáng tiếc từ 1987 đến nay Luật đất đai quy định “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý” ngược với luật tự nhiên mà luật pháp của hầu hết các nước (kể cả Việt Nam kia) đều chấp nhận việc phân định rạch ròi giữa đất công và đất tư.

Nhân vụ Tiên Lãng, đọc lại cuốn “Sự bí ẩn của tư bản” của De Soto – do tôi dịch và nghe nói đã chuyển cho các đại biểu Quốc Hội trước khi bàn và thông qua Luật Đất Đai 2003 (mà sau đó nhà xuất bản chính trị quốc gia đã xuất bản với tên “Sự bí ẩn của vốn” năm 2006) – và thấy rất đáng đọc lại nhất là Chương 5 “Những bài học bị bỏ sót về lịch sử Hoa Kỳ” (tr.113-162).

Trong chương này có tiểu mục mang tiêu đề “Bắn vào Sheriff” (tr.126-128), được NXB đổi lại thành “Bắn vào cảnh sát trưởng”, mà phần chính như sau:

Những người nhập cư đã bắt đầu vạch ranh giới, cày ruộng, xây nhà, chuyển nhượng đất, và thiết lập tín dụng trước xa việc chính phủ ban cho họ quyền làm như vậy. Bất chấp việc làm ăn táo bạo, dũng cảm của họ, tuy nhiên, nhiều nhà chức trách vẫn tin chắc rằng những người Mĩ mới này đã trắng trợn vi phạm luật và phải bị truy tố. Nhưng điều này đã không dễ làm. Thậm chí khi George Washington, người cha của Hoa Kì, đã cố đuổi những người đã chiếm đất trang trại của ông ở Virginia, luật sư của ông đã cảnh báo rằng “nếu ông thắng vụ kiện chống lại những người định cư trên đất của ông, thì chắc họ sẽ đốt nhà cửa và hàng rào của ông”.

Quan hệ giữa các bang khác và những người chiếm đất địa phương cũng bắt đầu nóng lên. Thậm chí trước Cách mạng, những người định cư từ Massachusetts đã bắt đầu định cư rồi ở Maine, vùng đất mà Massachusetts đòi ngay từ 1691. Lúc đầu, các chính trị gia Massachusetts đã chịu chấp nhận sự gia tăng những người chiếm đất ở vùng Maine xa xôi. Tuy nhiên, sau Cách mạng, với ngân khố trống rỗng và đồng tiền mất giá, các chính trị gia Massachusetts ngó tới vùng đất mênh mông của Maine như một nguồn thu nhập mới chủ yếu. Đột nhiên, những người chiếm đất ở Maine đã là trở ngại cho việc bán các lô đất lớn. Năm 1786, thống đốc ra một tuyên bố cấm chiếm đất ở Maine.

“Để làm yên lòng những người mua tiềm năng, Massachusetts đã chỉ định một uỷ ban để khảo sát và đòi “những kẻ chiếm đất” bất hợp pháp trả tiền. Hầu hết những người chiếm đất, tuy vậy, đã hoàn toàn từ chối di dời hoặc trả tiền đất. Thay cho việc thoả hiệp với những người chiếm đất, bang đã điều các sheriff để thực thi các thủ tục trục xuất hợp pháp, châm ngòi thùng thuốc nổ đã dẫn đến cái mà một sử gia đã mô tả như “cái gì đó giống một cuộc chiến tranh công khai”… Và khi một sheriff đã bị giết trong khi cố gắng trục xuất một người chiếm đất, ban hội thẩm đã từ chối kết án người được cho là kẻ giết người. Một phần như một kết quả của những hệ quả chính trị của sự thù địch giữa những người chiếm đất ở Maine, Massachusetts đã ưng thuận tư cách bang của Maine vào năm 1820.

De Soto, một người Peru, khi viết về lịch sử xử lý vấn đề sở hữu đất đai của Hoa Kỳ, đã phải thốt lên “Đối với một người thuộc thế giới thứ ba như tôi, bức tranh quá khứ này của người nước ngoài (Mỹ) thật quen thuộc đến kinh ngạc”.

Chúng ta cũng có thể học được nhiều từ cuốn sách của De Soto và từ lịch sử quản lý đất đai của bản thân cha ông chúng ta và cả từ chính quyền thuộc địa.

N.Q.A.

584.Góc nhìn đối lập về (vụ) chủ đầm tôm bị cưỡng chế

VNExpress

Góc nhìn đối lập về chủ đầm tôm bị cưỡng chế

Nguyễn Hưng

Trong khi người dân xã Vinh Quang (Tiên Lãng, Hải Phòng) coi ông Đoàn Văn Vươn như “người hùng” khai hoang, lấn biển thì UBND huyện lại cho rằng ông Vươn “đắp đê thu lợi cá nhân chứ có ích gì cho xã hội”.

Tại con đường dẫn vào khu đầm vừa bị cưỡng chế của ông Đoàn Văn Vươn, người tự xưng là công an xã (đeo khẩu trang) ngăn cấm tất cả mọi người đi vào.

Ngoài công an xã, rất nhiều thanh niên luôn dùng xe phân khối lớn, tay lăm lăm hung khí dọa dẫm, rú ga khắp khu đầm mỗi khi có người đến.

Chiều 10/1, tại khu vực đầm thủy sản ngoài đê xã Vinh Quang, hàng chục người dân vẫn tập trung bàn tán về vụ cưỡng chế đối với hộ ông Đoàn Văn Vươn. Cách triền đê chừng vài trăm mét, đầm thủy sản của gia đình ông Vươn tiêu điều với dấu tích còn sót lại của căn nhà hai tầng bị san phẳng. Nhiều vật dụng lẫn trong đống đổ nát.

Ánh mắt buồn nhìn sang khu đầm của hàng xóm, chủ đầm Vũ Văn Hiền nói: “Chống người thi hành công vụ là anh Vươn sai rồi. Nhưng trước đó, phải phong cho anh Vươn là người hùng”.

Là người cùng khai phá vùng đất ven sông cửa biển xã Vinh Quang từ hàng chục năm nay, ông Hiền thấm thía cảnh gia đình ông Vươn đổ mồ hôi công sức, thậm chí cả tính mạng của cô con gái 8 tuổi và một người cháu trên mảnh đất này. “Gia đình anh Vươn đã dám đương đầu với trời đất, thiên tai, làm được việc mà lực lượng thanh niên xung phong không làm được, phải bỏ đi”, ông Hiền nói.

Căn nhà 2 tầng ở giữa đầm của gia đình ông Đoàn Văn Vươn bị coi là hiện trường vụ án, đã bị phá. Ảnh: Nguyễn Hưng.

Người dân ở xã Vinh Quang khi nói về ông Vươn đều khẳng định ông sống hòa nhã, quan tâm tới mọi người. Công trình lấn biển của khu đầm thủy sản, đi đầu là gia đình ông Vươn đã giúp hàng trăm hộ dân xã Vinh Quang không còn phải chạy đôn chạy đáo mỗi mùa mưa bão.

“Trước đây chưa có khu đồng này thì dân luôn lo vỡ đê. Mùa bão chúng tôi kinh lắm, có bão phải chạy tới mãi xã trong. Có đồng của ông Vươn chúng tôi yên tâm, bão gió chúng tôi không phải chạy”, ông Doãn, người xóm chùa trên nói.

Còn với ông Phạm Văn Danh, nguyên Bí thư đảng ủy xã Vinh Quang, dù đã 20 năm, ông vẫn không thể nào quên hình ảnh kỹ sư nông nghiệp Đoàn Văn Vươn tìm đến ông xin được khẩn hoang khu bãi ngoài đê. “Lúc nó xuống xin làm tôi khuyên là không làm được đâu, nhà nước còn không làm được nữa là. Nhưng nó không nghe, cứ quyết làm”, đảng viên 82 tuổi nhớ lại.

Ông Danh kể, để thực hiện “canh bạc” với trời đất, ông Đoàn Văn Thiểu, bố của Vươn đã phải bán đàn vịt 1.000 con và 20 tấn thóc. Vươn huy động tất cả anh chị em cùng bà con, làng xóm cùng tiến ra vùng biển hoang… Nhiều năm vật lộn với trời đất được đền đáp bằng bờ kè dài chừng hai km, tạo nên bãi bồi màu mỡ, giải quyết công ăn việc làm cho nhiều lao động địa phương. Khu đầm còn là lá chắn vững chãi cho khu dân cư phía trong đê.

“Tôi và cả xã Vinh Quang không ngờ Vươn làm được và thành công”, ông bí thư già cứ nhắc đi nhắc lại.

Ông Phạm Văn Danh: “Tôi và cả xã Vinh Quang không ngờ Vươn làm được và thành công”. Ảnh: Nguyễn Hưng.

Trong khi đó, trao đổi với VnExpress, Chánh văn phòng UBND huyện Tiên Lãng Ngô Ngọc Khánh nói: “Anh Vươn không phải người tốt. Nói đúng ra, anh Vươn chẳng có công lao gì, cũng chẳng phải là người đi đầu vì sử dụng hàng chục ha và thu lời nhưng không đóng góp gì cho địa phương. Đặc biệt từ năm 2007 đến nay, anh hoàn toàn ăn không. Anh đắp đê để thu lợi cá nhân chứ có ích gì cho xã hội”.

Ông Khánh cho rằng, dư luận tốt về ông Vươn “chỉ là của một số người”. “Người ta nói thế là không đúng”, ông Khánh nói chắc nịch.

Đại diện UBND huyện Tiên Lãng tái khẳng định, việc cưỡng chế đối với diện tích đầm thủy sản của hộ ông Đoàn Văn Vươn là căn cứ theo quyết định của UBND huyện. Từ năm 2007, khu đất giao cho ông Vươn đã hết hạn, UBND huyện đã 8 lần làm việc yêu cầu ông Vươn bàn giao lại nhưng hộ này nhất quyết không trả. “Ông Vươn luôn chống đối, không chấp hành”, ông Khánh nói.

Trước nghi vấn việc cưỡng chế khu đầm của ông Vươn để giao cho một số người đã được “nhắm” trước, ông Khánh cho biết, đây là việc sau này, còn hiện tại cứ bàn giao cho xã quản lý. “Trách nhiệm của huyện, đúng – sai, cơ quan chức năng sẽ xem xét”, Chánh văn phòng UBND huyện Tiên Lãng nói.

Chánh văn phòng UBND huyện Tiên Lãng: “Anh Vươn không phải người tốt”. Ảnh: Nguyễn Hưng.

Chánh văn phòng Khánh khẳng định, cán bộ huyện, xã là những người làm công ăn lương nhà nước, không có thù hằn với ông Vươn. “Quan điểm của huyện là khi thu hồi đất đầm này sẽ giao cho dân để tiếp tục sản xuất, không phải ngăn cấm, loại trừ ai cả. Khi thuyết phục đáng ra anh Vươn cứ trả lại đầm rồi làm đơn xin giao tiếp thì cơ quan có thẩm quyền mới quyết định việc có giao nữa hay không”.

Vụ việc ở khu đầm thủy sản xã Vinh Quang đã âm ỉ nhiều năm nay. Cho rằng bị UBND huyện Tiên Lãng bội ước, các hộ dân không chấp hành. Khi thông báo cưỡng chế được phát đi, một số người dân nằm trong diện phải thu hồi đất đã thể hiện tinh thần không chấp thuận bằng những tuyên bố sẽ có phản kháng.

Ngày 5/1/2012, khi hơn 100 cảnh sát, bộ đội cưỡng chế, thu hồi đất của gia đình ông Đoàn Văn Vươn, một số người đã gài mìn tự chế trong vườn, cầm súng hoa cải chống lại. Bốn cảnh sát và hai cán bộ huyện đội bị thương, trong số này có người đứng đầu công an huyện Tiên Lãng.

Hai trung đội cảnh sát đặc nhiệm cùng nhiều lực lượng cảnh sát bảo vệ được điều xuống Tiên Lãng tăng cường. Giám đốc, 4 phó giám đốc công an thành phố Hải Phòng trực tiếp có mặt hiện trường. Tuy nhiên, khi cảnh sát tiếp cận ngôi nhà, những người nổ súng đã biến mất.

Ngay sau đó ông Đoàn Văn Vươn (52 tuổi) bị bắt giữ. Chiều 7/1, ông Đào Văn Quý (46 tuổi), em trai ông Vươn, được công an xác định là nghi can nổ súng, đã trình diện. 7 người liên quan hiện đã bị bắt giữ, 2 người đang bị truy bắt. Giám đốc Công an Hải Phòng Đỗ Hữu Ca thừa nhận, đã không lường được hết tính chất phức tạp của vụ cưỡng chế.

Khi phóng viên đến gần khu vực đầm thủy sản của của ông Đoàn Văn Vươn ngày 10/1, nhiều thanh niên dáng bặm trợn, mang theo hung khí đã xông ra cản đường. Ba người khác tự xưng là công an xã án ngữ lối đi hẹp, đòi xuất trình “giấy giới thiệu của ủy ban”. Phải tới khi có chỉ đạo của trưởng công an xã, những người này mới nhường đường.Trả lời về việc này, Chánh văn phòng UBND huyện Tiên Lãng Ngô Ngọc Khánh cho biết, việc này huyện không có chủ trương nhưng đây là biện pháp quản lý. “Báo chí muốn tác nghiệp thì phải liên hệ chính quyền địa phương. Nếu cứ đến mà tác nghiệp thì họ ngăn cấm là đúng”, ông Khánh cho biết.

.

Ý kiến bạn đọc trên VNExpress

Khó hiểu!

Tại sao lại: “Khi phóng viên đến gần khu vực đầm thủy sản của của ông Đoàn Văn Vươn ngày 10/1, nhiều thanh niên dáng bặm trợn, mang theo hung khí đã xông ra cản đường”… mà cán bộ an ninh địa phương không ngăn cản, lại còn trả lời: “Báo chí muốn tác nghiệp thì phải liên hệ chính quyền địa phương. Nếu cứ đến mà tác nghiệp thì họ ngăn cấm là đúng”. dân bặm trợn, xã hội đen là ai ???????

Hồng |

UBND Huyện Tiên Lãng

Đúng là xã hội này hết cách nói, “1m2 10 người chết” UBND huyện Tiên Lãng muốn chiếm đất thì phải nghỉ cho kỷ 1 người có học tại sao không sử dụng cái đầu của mình làm mảnh đất đó đi, gia đình ông Vươn đã đổ mồ hôi xương máu ra để xây dựng lên, cv này có ai giám làm không khi mảnh đất này hái ra tiền thì huyện này nhảy vào lấy lý do này nọ để chiếm đoạt.

mua hoa tuyet |

Mong Vnexpress sớm làm rõ những khúc mắc này!

Rõ ràng là có nhiều khuất tất trong vụ việc này, mong Vnexpress làm rõ “có hay không việc một số cán bộ huyện câu kết với các ông lớn khác cướp đất của người dân để cùng nhau hưởng lợi”. Nếu không có vụ ông Vươn chống người thi hành công vụ thì tôi nghĩ gia đình ông Vươn có “kêu trời cũng chẳng thấu”.

TS |

Nên có điều tra và kết luận của cơ quan cấp trên

Việc chống người thi hành công vụ luôn là sai. Tuy nhiên, cũng cần có điều tra làm rõ xem những người thi hành công vụ đó có lạm quyền, lợi dụng việc công cho lợi ích riêng không; những người phản kháng có phải vì muốn gây rối trật tự và có bản chất côn đồ không hay là do cực chẳng đã, bị o ép, cưỡng đoạt mồ hôi, xương máu mà phải làm liều.
Chính quyền là của dân, do dân và vì dân. Chính quyền nhằm đảm bảo trật tự xã hội, tạo môi trường, điều kiện và cơ hội cho người dân phát triển, làm giàu chính đáng và đóng góp cho xã hội. Mỗi người dân phát huy sức lực, trí lực, vật lực làm giàu cho bản thân, tạo công ăn việc làm cho người khác chính là đóng góp cho xã hội.
Đúng sai của mỗi bên đến đâu sẽ do cơ quan điều tra làm rõ. Tuy nhiên, phát biểu của Chánh văn phòng UBND huyện Tiên Lãng thật đáng buồn. Nếu như mọi cán bộ đều như ông Khánh thì còn người dân nào muốn đóng góp sáng kiến, đổ mồ hôi, xương máu để làm kinh tế nữa.
Sự việc đã không tồi tệ như vậy nếu như chính quyền địa phương tiếp tục giao đất cho gia đình ông Vương và các hộ dân ở đây theo đúng chế độ đãi ngộ của Nhà nước đối với người có công khai hoang.
Tôi mong các cơ quan điều tra cấp trên (Tỉnh và Trung ương) sớm vào cuộc điều tra, đưa ra kết luận về đúng sai của mỗi bên và có hính thức xử lý thỏa đáng để người dân yên tâm làm kinh tế, sống và làm việc theo pháp luật.

Nguyễn Tiến Dũng

Đất rừng phương nam bây giờ

đọc bài này tôi lại nhớ đến bộ phim đất rừng phương nam mọi người ạ, thật quá đáng càng ngày càng không thể chịu nổi…

lan lan

Nực cười

Nực cười nhìn lại mấy ông tai to bụng bự có bao giờ tay , chân đụng tới một cái gì đâu mà nói . Làm sao hiểu được nổi vất vả , cơ cực của người dân chân lấm tay bùn chứ . Bao mồ hôi , bao công sức của người dân bỏ ra mà cứ lăm le muốn chiếm làm của riêng . Có 1 câu nói ! Dân không bao giờ tự nhiên làm phản là do người lãnh đạo ép dân làm phản mà thôi – Nghĩ lại cũng đúng .

Huỳnh Tấn Phát |

Điều tra

Tôi nghĩ là chính quyền địa phương có vấn đề,cứ cho các cán bộ này nghỉ để điều tra là êm ngay

duc |

LUẬT VUA THUA LỆ LÀNG

chính quyền địa phương phải khuyến khích tạo điều kiện cho người dân làm ăn sinh sống chính đáng chứ, lúc người dân khó khăn thì ko giúp, lúc thấy bắt đầu có ăn thì ghen ăn tức ở, thòm thèm chia chác, tất cả cũng chỉ vì đồng tiền.

tran |

Chỉ có láng giềng mới hiểu được sự tình

Sự việc nổ súng làm 6 người bị thương trên theo tôi là cà một câu chuyện dài , không cớ chuyện người ta lại đi chống lại tổ chức được cho là có quyền lực cao .Không dại gì mà anh dân thường lại đi đánh cảnh sát , chỉ có bọn điên mới làm thế . mà tôi nghĩ không lẽ cả gia đình ông Vươn điên . Không có lửa thì làm sao có khói , phải có những uẩn khúc trong vụ việc này , Chỉ có láng giềng gần mới hiểu được và phân tích một cách công minh nhất . Mong các cơ quan có thẩm quyền hãy vào cuộc để làm rõ vụ việc một cách công tâm nhất ,để những người dân thấp cổ bé họng có cơ hội đòi lại công bằng.

le nguyen hung |

Đồng ý! Nghi vấn đang có khuất tất!!!!

Nếu UBND huyện Tiên Lãng xử lý có lý có tình với dân thì có lẽ sẽ không xảy ra sự cố như trên! Có thể bên trong đó có vấn đề khuất tất!!!! Khi khó khăn, đói khổ thì chính quyền địa phương chắc gì đã giúp được gì cho dân! Khi người dân vươn lên từ khó khăn thì lại “dòm ngó” muốn tranh ăn!!!

Nguyen Hoang Phuong-KG |

Tôi nghĩ là chính quyền địa phương có vấn đề

Tôi nghĩ là chính quyền địa phương có vấn đề,tức nước thì vỡ bờ thôi,lại tham ô tham nhũng rồi.

NGUYEN VAN NAM |

Xử theo đúng pháp luật thôi

Vụ này xẽ được xử kín thôi. Anh Vươn chống người thi hành công vụ thì sẽ bị xử theo pháp luật. Còn nguyên nhân đằng sau đó thi chắc là không có lời giải. Dù sao đó cũng chỉ là dân nói chứ làm gì có chứng cứ. Pháp luật luôn đúng nếu luật sai thì chỉ có người làm sai thôi.

Vũ Công Trứ |

Chánh VP UBND Huyện Tiên Lãng.

Ông Chánh VP UBND huyện Tiên Lãng nói Ông Vươn không phải người tốt tại sao người dân lại nói Ông Vươn là người tốt, hay chính quyền địa phương này bưng bít và nhòm ngó mảnh đất sinh lợi này cho chính bản thân các vị? Tôi nghĩ rằng ông Vươn có giao lại đất thì chắc chắn chính quyền cũng ko giao lại cho Ông Vươn sản xuất tiếp đâu. Các vị hãy xem quyền lợi của người dân như quyền lợi của chính mình thì các vị sẽ làm khác chứ không để xảy ra vụ việc vừa rồi. Những người đi khai hoang mới được hưởng những lợi mà công sức họ đã bỏ ra, thậm chí cả mồ hôi và nước mắt.

Dung Dung |

Bức xúc

Tức nước vỡ bờ thôi!
Các ông chính quyền ở tận trên cao thì làm sao mà biết được người ta phải làm như thế nào mới được cơ ngơi đấy chứ. Hay là việc đã rồi thì ông lãnh đạo nọ mới nói là thu hồi để giao cho dân tiếp tục nuôi tôm? Ông Vươn này có phải là dân không? hay là đã có dự án nào nhắm mảnh đất ấy rồi. Việc này cũng phải nghe từ những người dân cùng lấn biển với ông Vươn chứ, như thế thông tim mới chính xác được. Nhưng mà tại sao ông chính quyền lại cấm nhà báo đến tác nghiệp chứ?hay các ông sợ? Trong việc này thì phải công bằng chứ đừng có mà bưng bít thông tin để ghép tội cho người ta! Rõ ràng là ông Vươn chống người thi hành công vụ là sai pháp luật rồi! nhưng xương máu và mồ hôi đổ xuống đấy như thế mà bị cướp đi thì thật là uất ức quá đi chứ. Các ông chính quyền thu hồi để làm gì?? vậy các ông đã làm những gì để giải quyết công ăn việc làm cho người bị thu hồi chưa hay chỉ ít tiền đền bù. nhưng đấy là vật chất, còn về tinh thần và nhiệt huyết của người ta vào đấy các ông đã cân nhắc chưa??

Theo tôi thông tin của người dân quanh đấy mới là đúng nhất, các ông chính quyền hay quan liêu lắm, hãy để các nhà báo tác nghiệp thì mới biết được ai đúng ai sai. Nêu trong việc này ông Vươn kia mà đúng thật như bài báo này đăng thì bà con cũng nên đứng ra mà bảo vệ lẽ phải, còn hành động của ông vươn chống lại Công an thì dĩ nhiên phải chịu trách nhiệm rồi. Mong các ông chính quyền làm gì thỉ làm nhưng hãy để nhân dân còn tin tưởng một tý. Đừng vì quyền lợi của một nhóm cá nhân nào đó chỉ biết ngồi một chỗ mà bưng bít thông tin và làm cho dân mất lòng tin vào chính quyền, đừng dùng quyền lực đàn áp nhân dân mà phải giải quyết có tình có lý thì dân mới tin được chứ đừng có hơi một tý là cưỡng chế, cưỡng chế. Các ông cũng nên kiểm điểm lại xem các ông đã đúng chưa đã!

nguyenhai |

Xin thưa ông CVP huyện Tiên Lãng

Ông bảo “Khi thuyết phục đáng ra anh Vươn cứ trả lại đầm rồi làm đơn xin giao tiếp thì cơ quan có thẩm quyền mới quyết định việc có giao nữa hay không” một hộ dân đang làm ăn tốt như vậy thế tại sao chính quyền xã không có giải pháp cho họ tiếp tục sản xuất mà phải “trả lại” rồi mới xem có được giao tiếp nữa không, “nữa không” ai mà biết được sau khi vụ việc xẩy ra như vậy rồi chắc các ông cũng sẽ trả lời là “nếu anh Vươn mà trà lại sau khi hoàn thiện hồ sơ chúng tôi sẽ tiếp tục giao cho anh ý”. Hãy tin vào những gì người dân sống xung quanh nhà ông Vươn nói, họ là những người hàng xóm họ hiểu gia đình nhà ông Vươn hơn chính anh em xa của họ, họ nói là chính xác.

Phạm Văn Dũng |

Tội người dân

“Khi phóng viên đến gần khu vực đầm thủy sản của của ông Đoàn Văn Vươn ngày 10/1, nhiều thanh niên dáng bặm trợn, mang theo hung khí đã xông ra cản đường.” Ngô Ngọc Khánh cho biết, việc này huyện không có chủ trương nhưng đây là biện pháp quản lý. “Báo chí muốn tác nghiệp thì phải liên hệ chính quyền địa phương. Nếu cứ đến mà tác nghiệp thì họ ngăn cấm là đúng”, ông Khánh cho biết. Nghe cái kiểu trả lời thế này là biết thừa có mờ ám. Mấy ông này cướp đất của dân rồi chia chác nhau ai mà chẳng biết. ỷ thế hiếp người như kiều thực dân. Nước ta cứ đói khổ vì những con người thế này đây. Tội cho người dân, xin chia sẻ cùng chú Vươn.

nguyenthang |

Việc cưỡng chế có vấn đề nghi vấn

Việc cưỡng chế của UBND huyện Tiên Lãng tôi thấy 100% là có vấn đề bên trong, thực ra sự việc ông Vươn không đóng thuế như họ nói chỉ là một cái cớ rất nhỏ, cái lớn hơn đó là vì lợi ích và giá trị của toàn bộ khu đất mà cả nhà ông Vươn mất bao nhiêu mồ hôi xương máu và cả tính mạng để tạo dựng nên, việc mà ngay cả nhà nước còn bó tay (như bài viết). Thời buổi này tấc đất tấc vàng mà. Tôi thấy bài viết nói rằng, người dân của Tiên Lãng còn khẳng định rằng công lao của gia đình ông Vươn là rất lớn với xã hội và đáng lẽ phải phong anh hùng, nhưng cái ông Khánh lại nói rất vô tư và trơn tru rằng họ chả có công lao và đóng góp gì. Thể nào, cũng sắp tới đây thôi, sau một khoảng thời gian cho tình hình dịu lại, trên khu đất của ông Vươn sẽ có một “Ông lớn” nhảy vào với nhiều hạng mục đầu tư dưới sự “bảo trợ” của chính quyền địa phương. Đã có rất nhiều vụ tiêu cực đất đai ở Hải Phòng liên quan đến các quan chức cao nhất chính quyền tỉnh này. Ôi, bao giờ mới có được sự công bằng? bao giờ dân hết khổ?

Bức Bối |

Tuesday, 10 January 2012

593.Quả Bom Đoàn Văn Vươn

Osin HuyDuc

Quả Bom Đoàn Văn Vươn

10-01-2012

Huy Đức

Khi lực lượng cưỡng chế huyện Tiên Lãng đến khu đầm, anh Vươn cho nổ trái mìn tự tạo cài dưới một bình gas. Bình gas không nổ. Nhưng, trái mìn tự tạo vẫn gây tiếng vang như một quả bom, “quả bom Đoàn Văn Vươn”. Vụ nổ không chỉ gây rúng động nhân tâm mà còn giúp nhìn thấy căn nguyên các xung đột về đất đai. Quyền sở hữu nói là của “toàn dân”, trên thực tế, rất dễ rơi vào tay đám “cường hào mới”.

Sự Tùy Tiện Của Nhà Nước Huyện

Quyết định giao bổ sung 19,5 ha đất nuôi trồng thủy sản cho ông Đoàn Văn Vươn, ký ngày 9-4-1997, ghi thời hạn sử dụng là 14 năm tính từ ngày 14-10-1993. Theo báo Thanh Niên, ở thời điểm ấy, chính quyền huyện Tiên Lãng đã quy định thời hạn giao đất cho nhiều cá nhân, hộ gia đình rất tùy tiện: có người được giao 4 năm; có người 10 năm… Tuy thời điểm này chưa có các nghị định hướng dẫn chi tiết việc thi hành, nhưng Luật Đất đai năm 1993 đã nói rõ thời hạn giao đất nuôi trồng thủy sản cho hộ gia đình và cá nhân là 20 năm.

Theo Nghị định ngày 28-08-1999, nếu chính quyền Tiên Lãng không tùy tiện thì gia đình ông Vươn có quyền sử dụng phần đất này cho đến ngày 9-4-2017, tính từ ngày ông được huyện ký giao; tối thiểu cũng phải đến ngày 15-10-2013, nếu huyện “ăn gian” tính theo ngày Luật Đất đai có hiệu lực. Vấn đề là, cho dù đất được giao của gia đình ông Vươn hết hạn thì có phải là đương nhiên bị thu hồi để giao cho người khác như cách mà Tiên Lãng đã làm. Luật Đất đai 2003 quy định hạn điền cho loại đất nuôi trồng thủy sản là 3 hecta và với phần đất vượt hạn mức của ông Vươn có thể áp dụng Điều 35 để cho ông tiếp tục thuê như quy định đối với đất đai nông nghiệp.

Sở Hữu Toàn Dân

Tuy dịch từ Hiến pháp 1936 của Liên xô, Hiến pháp 1959 của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn chưa “quốc hữu hóa đất đai”. Cho dù, từ thập niên 1960s ở miền Bắc và từ cuối thập niên 1970s ở miền Nam, ruộng đất của nông dân đã bị buộc phải đưa vào tập đoàn, hợp tác xã, đất đai chỉ chính thức bị coi là thuộc “sở hữu toàn dân” kể từ Hiến pháp 1980.

Theo Bộ trưởng Tư pháp Nguyễn Đình Lộc: “Trong bản dự thảo Hiến pháp 1980 do Chủ tịch Trường Chinh trình Bộ Chính trị vẫn đề nghị duy trì đa hình thức sở hữu, trên cơ sở khuyến khích 5 thành phần kinh tế. Theo tôi biết thì Bộ Nông nghiệp và Ban Nông nghiệp Trung ương cũng không đồng ý quốc hữu hóa”. Nhưng, ngày 10-9-1980, trong một bài nói chuyện trước Ban chấp hành Trung ương có tựa đề, “Hiến pháp mới, Hiến pháp của chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa”, Tổng Bí thư Lê Duẩn nói: “Nhân đây, tôi nhấn mạnh một điểm rất quan trọng trong Dự thảo Hiến pháp mới là chuyển toàn bộ đất đai thành sở hữu toàn dân. Đề ra như vậy hoàn toàn đúng với quy luật tiến lên chủ nghĩa xã hội”. Ông Nguyễn Đình Lộc, thành viên Ban thư ký của Ủy ban Soạn thảo Hiến pháp 1980, thừa nhận: “Khi đó, uy tín Lê Duẩn bao trùm. Mặt khác, nhiều người cũng không hình dung được bản chất của sở hữu toàn dân là quốc hữu hóa”.

Tuy chấp nhận quốc hữu hóa đất đai nhưng theo ông Tôn Gia Huyên, lúc bấy giờ là Vụ phó vụ Quản lý Đất đai, ông Trường Chinh chủ trương giữ nguyên hiện trạng chứ không tịch thu ruộng đất như điều mà Lenin đã làm với kulax ở Nga sau năm 1917. Ông Trường Chinh yêu cầu ghi vào Điều 20 của Hiến pháp 1980: “Những tập thể và cá nhân đang sử dụng đất đai được tiếp tục sử dụng và hưởng kết quả lao động của mình theo quy định của pháp luật”.

Khi Hiến pháp 1992 bắt đầu được soạn thảo, theo ông Phan Văn Khải: “Thủ tướng Võ Văn Kiệt và tôi muốn sửa Hiến pháp theo hướng, trao quyền sở hữu ruộng đất cho nông dân nhưng không thành công, chúng tôi đành phải tìm ra khái niệm, trao 5 quyền cho người sử dụng đất”. Trong Đại hội Đảng lần thứ VII, vòng I, nhiều nhà lãnh đạo địa phương đã lên tiếng ủng hộ “đa sở hữu hóa đất đai”. Nhưng, ở cấp cao, theo Trưởng ban Biên tập Hiến pháp 1992, ông Nguyễn Đình Lộc: “Không ai có đủ dũng cảm đứng lên đòi bỏ sở hữu toàn dân, vì đó là một vấn đề nhạy cảm, đụng đến chủ nghĩa xã hội. Khi chuẩn bị bài phát biểu về Hiến pháp cho Tổng Bí thư Đỗ Mười, tôi có trình bày, nhưng ông Đỗ Mười nghiêng về sở hữu toàn dân. Ông tin vào điều ông Lê Duẩn nói, sở hữu toàn dân là quan hệ sản xuất tiên tiến. Ông Đỗ Mười tin, trước sau gì ta cũng tới đó nên cứ để vậy”.

Các Nhà Làm Luật

Luật Đất đai 1993 đã trao cho người dân 5 quyền: sử dụng, chuyển nhượng, thừa kế, thế chấp và cho thuê quyền sử dụng đất. Nhưng, so với Hiến pháp 1992, Luật Đất đai 1993 có một điểm lùi. Hiến pháp ghi: “Nhà nước giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài”. Trong khi Luật chỉ giao đất cho cá nhân và chỉ giao có thời hạn. Ông Tôn Gia Huyên giải thích: “Thời hạn giao đất thực chất chỉ là ý chí chính trị, là sợi chỉ cuối cùng để phân biệt giữa sở hữu tư nhân và sở hữu Nhà nước”. Là ranh giới để trấn an những người vẫn còn tin, Việt Nam tiếp tục đi lên chủ nghĩa xã hội.

Nhưng, cái ranh giới tưởng có giá trị trấn an ấy đã lại rất mù mờ, mù mờ ngay trong đầu chính các nhà lập pháp. Tháng 7-1993, sau bốn buổi thảo luận trên Hội trường về Luật Đất đai, các đại biểu miền Nam đề nghị “giao đất lâu dài” như Hiến pháp 1992, trong khi các đại biểu miền Bắc và miền Trung lại tán thành giao đất có thời hạn; thậm chí có đại biểu còn đòi rút ngắn thời hạn giao đất xuống còn từ 10-15 năm. Trong tính toán của nhiều người, giao đất có thời hạn nghĩa là sau đó Nhà nước có thể lấy lại để giao cho người khác. Đại biểu Đặng Quốc Tiến, Bắc Thái, nói: “Đất ít, người đông, giao có thời hạn thì sẽ bảo đảm cho công tác điều chỉnh đất đai khi có biến động nhân khẩu”. Ông Nguyễn Bá Thanh, khi ấy là Chủ tịch Thành phố Đà Nẵng, đã rất hăng: “Đi nghĩa vụ quân sự 2 năm thì kêu dài, giao đất 20 năm thì bảo ngắn”.

Khi Luật Đất đại 1993 được đưa ra sửa đổi, Chính phủ đề nghị nâng thời hạn giao đất nông nghiệp từ 20 năm lên 50. Trong hai ngày 14 và 16-11-1998, nhiều đại biểu cũng đã phản ứng, thậm chí còn có phần gay gắt. Chủ nhiệm Hợp tác xã nông nghiệp Đại Thắng, Đại Lộc (Quảng Nam) ông Trần Văn Mai nói: “Số nông dân chưa có đất đang trông chờ cho hết thời điểm 20 năm, bây giờ đã được 5 năm, còn 15 năm nữa họ sẽ được chia đất. Nếu bây giờ ta tăng thời hạn lên 50 năm sẽ là một sự hụt hẫng lớn của nhân dân với Đảng”. Theo cách hiểu của ông Trần Văn Mai: “Hoặc hết hạn 20 năm, hoặc người sử dụng đất chết, chúng ta sẽ thu hồi cấp lại cho những nhân khẩu phát sinh”. Nhưng, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Trị, ông Nguyễn Đức Hoan đã phát biểu: “Đừng lo cho 20 năm sau không có đất để phân phối lại. Bây giờ ở ta 80% dân số làm nông nghiệp. Không lẽ 20 năm sau cũng 80%?”. Chủ tịch Hội nông dân tỉnh Đồng Tháp ông Trương Minh Thái cho rằng: “Đừng nghĩ chúng ta chỉ có thể điều phối ruộng đất ở nông thôn bằng cách thu hồi rồi chia lại. Chúng ta đã giao cho người dân năm quyền, họ có thể để thừa kế, hoặc sang nhượng cho người chưa có đất”.

Đất Dân Quyền Quan

Năm quyền của người sử dụng đất sau đó được “pháp điển hóa” trong Bộ Luật Dân sự 1995 như các quyền dân sự. Quyền sở hữu, tuy “trá hình” này, vẫn là cơ sở pháp lý để hình thành thị trường địa ốc. Và trong giai đoạn đầu, nhờ tư vấn của World Bank, thị trường đã được điều hành bằng công cụ thuế. Cho dù do thuế suất quá cao, Luật Thuế Chuyển quyền sử dụng đất, ngay lúc ấy, đã khiến nhà đất đóng băng nhưng sử dụng công cụ thuế chính là thừa nhận giá trị các giao dịch dân sự liên quan tới đất đai. Tuy nhiên, chính quyền các cấp có vẻ như không mấy mặn mà với vai trò đứng ngoài. Các giao dịch, đặc biệt là mua bán đất đai đã bị hành chánh hóa: Nhà nước thu hồi đất của người bán rồi giao đất cho người mua. Thay vì thu thuế chuyển quyền, người mua phải đóng tiền sử dụng đất, đặt người có đất trong tình thế phải trả tiền hai lần.

Đỉnh cao của sai lầm về chính sách là Pháp lệnh 14-10-1994 và Nghị định 18, hướng dẫn thi hành Pháp lệnh đó. Theo Nghị định 18, các tổ chức không còn được giao đất có đủ các quyền như Hiến pháp 1992. Những doanh nhân tiên phong như Tăng Minh Phụng, Liên Khui Thìn, Trần Quang Vinh… đã vay hàng ngàn tỷ đồng để mua đất, sau Nghị định 18 phải chuyển những lô đất ấy thành đất thuê và chỉ được thế chấp ngân hàng theo giá trị số tiền thuê đã trả cho nhà nước. Khi bị bắt, cũng nhân danh “đất đai thuộc sở hữu toàn dân”, Hội đồng thẩm định do Nhà nước lập ra đã tính, có những mét vuông đất, giá không bằng que kem. Đất biệt thự đường Trần Phú, Vũng Tàu, mà chỉ được Tòa công nhận giá ba-trăm-đồng/m2. Khoản chênh lệch giữa giá thực mua và giá của Tòa được coi là thất thoát để buộc tội các doanh nhân này lừa đảo.

Trong tù, có lúc Minh Phụng nói với Luật sư Nguyễn Minh Tâm: “Xin luật sư hãy nhìn vào mắt em để xem em có phải là người lừa đảo?”. Ngày 12-7-1999, khi nghe Luật sư Tâm nhắc lại câu này Minh Phụng đã bật khóc trước Tòa. Cũng đầu tư vào đất đai cùng một phương thức tuy khác quy mô, nhưng, thái độ của Nhà nước với giá đất đã biến ông Lê Văn Kiểm, Huy Hoàng, thành anh hùng và tử hình ông Tăng Minh Phụng.

Danh Chính Ngôn Thuận

Đầu tháng 12-2011, Chính quyền Đà Nẵng nơi ông Nguyễn Bá Thanh là Bí thư kiêm Chủ tịch Hội đồng Nhân dân đã đề nghị cho tư nhân sở hữu đất đai. Sau 20 năm lãnh đạo một địa phương, có lẽ ông Nguyễn Bá Thanh nhìn thấy, quyền sở hữu trá hình đã đặt đất đai của người dân vào tay chính quyền cấp huyện với quá nhiều rủi ro. Điều 38, Luật Đất đai 2003, nói: Nhà nước chỉ thu hồi đất khi “cá nhân sử dụng đất chết mà không có người thừa kế” (khoản 7). Nhưng, tại khoản 10 cũng của Điều 38, Luật lại mở ra khả năng: Nhà nước thu hồi những phần đất “không được gia hạn khi hết thời hạn”. Chính quyền cấp huyện được Luật giao quyền giao đất và thu hồi đất của cá nhân và hộ gia đình. Nếu chính quyền Tiên Lãng áp dụng điều 67, tiếp tục giao đất cho ông Vươn, thì đã không có gì xảy ra, nhưng họ đã đẩy ông vào khoản 10, Điều 38: Thu hồi đất vì “không được gia hạn” khi thời hạn giao đất của ông đã hết.

Sau “trái bom Đoàn Văn Vươn”, chúng ta biết, khu đất đầm mà anh có không phải là đất được nhà nước giao mà là đất do gia đình anh phải lấn biển, khai hoang. Suốt 5 năm “trầm mình dưới nước từ mờ sáng tới tận tối khuya”, biết bao lần bị bão biển cuốn phăng để đắp được một bờ kè dài hai cây số, tạo nên bãi bồi màu mỡ và một khu đầm nuôi tôm cá rộng gần 40 hecta. Cũng nơi đây, anh Vươn mất một đứa con gái 8 tuổi vì khi cha mẹ mải làm con gái của anh đã rơi xuống cống. Đừng nói chuyện thu hồi, lẽ ra chính quyền Tiên Lãng phải xấu hổ khi ký quyết định giao cho anh Vươn phần đất của chính anh, phần đất mà anh Vươn đã phải gắn bó suốt 20 năm, đã đổ cả mồ hôi và máu.

Nếu như, quyền sở hữu về đất đai của người dân được công nhận, thì cách khai hoang, lấn biển của gia đình anh Vươn phải được coi như một hình thức thụ đắc ruộng đất mà từ xa xưa cha ông ta đã áp dụng cho người dân để ngày nay Việt Nam liền một dải từ Lạng Sơn đến Mũi Cà Mau. Nếu như quyền sở hữu về đất đai của người dân được công nhận, Chính quyền không thể hành chính hóa các giao dịch dân sự liên quan đến đất đai. Các đại gia không thể thậm thụt với đám cường hào thu hồi những mảnh đất của dân mà họ mua không được.

Nhưng đó là câu chuyện có thể được thảo luận trong quá trình sửa đổi Hiến pháp. Người dân đang dõi theo thái độ của Chính phủ, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội trước trường hợp Đoàn Văn Vươn.

Theo cách giải thích của Giám đốc Công an Hải Phòng Đỗ Hữu Ca thì đất ông Vươn nằm trong vùng quy hoạch xây dựng một sân bay quốc tế. Nếu thu hồi bây giờ hoặc chuyển thành thuê thì mai này nhà nước không phải bồi thường cho ông Vươn. Đỗ Hữu Ca nói: “Với công trình đặc biệt quan trọng như thế thì đền bù sẽ rất lớn. Ông Vươn cố giữ lại như thế để lấy đền bù khi dự án được triển khai”. Có thể Đỗ Hữu Ca là một công chức mẫn cán chứ không phải là “cụ Bá”. Nhưng, lo quyền lợi của nhà nước sao không tính quyền lợi của dân, không tính máu và mồ hôi 20 năm của gia đình anh Vươn. Chắc Đỗ Hữu Ca không nghĩ, anh em, bà con ông và chỉ vài năm nữa chính ông cũng là dân.

Đỗ Hữu Ca có lẽ không nhớ chuyện anh rể của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, sáng 17-4-2009, bị “áp giải ra khỏi hiện trường” khi chính quyền huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương tiến hành cưỡng chế thu hồi hơn 185 hecta cao su của ông để làm khu công nghiệp. Ông đã không đồng ý cho giải tỏa, mặc dù, 185 hecta cao su này ông có được nhàn hạ hơn so với công sức khai hoang, lấn sóng của anh Vươn và mức đền bù thì cao hơn gấp 20 lần giá vốn. Nhắc lại câu chuyện này để thấy, bất luận là ai, khi phải đối diện với tài sản của mình thì mới thấy của đau, con xót.

Dù sao thì hành động chống người thi hành công vụ của anh Đoàn Văn Vươn cũng phải được đưa ra xét xử. Nhưng, thông điệp mà các địa phương chờ đợi không phải là những năm tù cho anh mà là thái độ của nhà nước với chính quyền Tiên Lãng. Từ năm 2013, ruộng đất của nông dân bắt đầu lần lượt hết hạn giao đất. Nếu như quyết định của Chủ tịch Tiên Lãng Lê Văn Hiền không bị coi là sai, hơn 500 chủ tịch huyện trên cả nước có thể noi gương thu hồi đất đáo hạn của nông dân để… giao, thì không biết điều gì sẽ xảy ra. Đừng chậm trễ và đừng để “quả bom Đoàn Văn Vươn” lại nổ.

Nguồn: FB Osin HuyDuc

679.0 Hướng dẫn cài đặt AD RMS server ( Active Directory Rights Management Services) có trong Windows Server 2012.

Nguồn: https://mdungblog.wordpress.com/2018/06/21/simple-guide-huong-dan-cai-dat-ad-rms-windows-server-2012-r2/   Hôm nay mình xin giới thiệ...