Thursday, 5 January 2012

592.Ảnh : NHÌN LẠI CHIẾN TRANH VIỆT NAM

  1. Những bức ảnh dưới đây cho chúng ta nhìn lại Chiến tranh Việt nam từ lúc Mỹ leo thang can thiệp đầu những năm 1960 đến lúc chính quyền Sài Gòn cũ sụp đổ”. Denverpost chỉ giới thiệu một câu vậy thôi nhưng xem phóng sự ảnh dưới đây ta thấy cả cuộc chiến tranh Việt Nam đã được dựng lại rất sinh động và xác thực, thật tuyệt vời! Cảm ơn KTS Võ Thanh Lân đã gửi cho đường link và Bs Nguyễn Hải Phong đã dịch phóng sự ảnh này.

    Lời người dịch: Đây là những bức hình chọn lọc được Denverpost đăng tải nhân kỷ niệm 35 năm ngày chế độ VNCH sụp đổ, 30/04/1975, để giữ tính khách quan, người dịch giữ nguyên những câu chữ nghĩa nguyên gốc theo quan điểm của Denverport như Nam Việt, Bắc Việt, Việt cộng, lực lượng chính phủ (là của chế độ Sài gòn cũ)...



    1. Một người lính Việt Nam Cộng hòa cầm súng lục đã lên đạn khi tra vấn hai du kích nghi là Việt cộng bị bắt trong một đầm lầy đầy cỏ dại ở vùng đồng bằng phía Nam cuối tháng tám năm 1962. Những người bị bắt bị lục soát, trói chặt và bị thẩm vấn trước khi bị dẫn đi cùng với những người tình nghi khác. (AP Photo/Horst Faas)



    2. Một thành viên phi đội Mỹ tháo chạy khỏi trực thăng chở quân CH-21 Shawnee bị nạn gần một ngôi làng ở Cà mau – cực nam của Nam Việt Nam, ngày 11 tháng 12 năm 1962. Hai chiếc trực thăng đã bị rơi không có tổn thương nhân mạng nghiêm trọng trong một cuộc tập kích của chính phủ vào khu vực bị Việt Cộng xâm nhập. Hai chiếc trực thăng đã được phá hủy để giữ chúng không bị rơi vào tay đối phương (AP Photo/Horst Faas)



    3. Một phi đội trưởng trực thăng người Mỹ với mũ cối, tay cầm súng carbine, theo dõi sự di chuyển dưới mặt đất của lính Việt Nam từ trên cao trong một cuộc hành quân chống du kích Việt cộng ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, ngày 2 tháng Giêng năm 1963. Những người cộng sản Việt cộng đã tuyên bố chiến thắng trong cuộc chiến dai dẳng ở Việt nam sau khi bắn hạ 5 trực thăng Mỹ. Một sĩ quan Mỹ đã tử thương và ba nhân viên công lực Mỹ khác đã bị thương trong chiến trận. (AP Photo)
  2. #2




    4. Quan tài mang thi thể của 7 lính trực thăng Mỹ bị chết trong vụ rơi máy bay ngày 11 tháng Giêng năm 1963 được đưa lên máy bay vào thứ Hai ngày 14 tháng Giêng để đưa về nhà. Phi đội đã ở trên một trực thăng H21 bị rơi gần một túp liều trên một hòn đảo giữa một trong những nhánh sông Mê kông, khoảng 55 dặm phía Tây Nam Sài Gòn (AP Photo)



    5. Thượng tọa Thích Quảng Đức, tự thiêu trên một đường phố Sài gòn ngày 11 tháng 6 năm 1963, để phản đối việc đàn áp Phật tử bởi chính quyền Nam Việt Nam (AP Photo/Malcolm Browne, File)

    http://hqvnch.net/default.asp?id=1373&lstid=178
     
    MỘT SỰ THẬT ĐÃ BỊ BƯNG BÍT GẦN NỬA THẾ KỶ

    Chỉ cần xem qua cái video clip, ai cũng thấy rõ, sau khi cầm bình xăng tưới vào người Thượng Tọa Thích Quảng Đức đang ngồi bất động, tên ác tăng máu lạnh cộng sản nằm vùng Nguyễn Công Hoan (Huỳnh Văn Thạnh) còn cẫn thận rãi thêm một đường xăng từ nhà sư đi về phía sau, để hắn có thể đứng từ xa mà châm lửa!
    Vậy mà toàn bộ sách báo Cộng sản đều viết rằng “Hoà Thượng Thích Quảng Đức TỰ tẩm xăng”!!!
    Như vậy, rõ ràng hành vi của tên ác tăng cộng sản Nguyễn Công Hoan là hành vi giết người !
    Năm 1976, Nguyễn Công Hoan được Mặt Trận Tổ Quốc đưa ra làm đại biểu Quốc Hội đơn vị Phú Khánh
    Hòa thượng Thích Quảng Đức đã bị bức tử bởi Phật giáo Ấn Quang bằng cách tưới xăng đốt sống ngày 11 tháng 6, 1963 tại Sài gòn!




    6. Bay lúc hừng đông, ngay trên những tán lá rừng rậm, máy bay C-123 Mỹ phun thuốc làm rụng lá đậm đặc dọc theo đường điện chạy từ Sài Gòn đến Đà lạt ở Nam Việt Nam, đầu tháng 8 năm 1963. Những chiếc máy bay đã bay khoảng 130 dặm một giờ qua những địa hình đồi núi hiểm trở, đa số được cho là có Việt Cộng xâm nhập (AP Photo/Horst Faas)
  3. #3




    7. Một lính thủy đánh bộ Nam Việt, bị thương nghiêm trọng trong một cuộc phục kích của Việt cộng, được đỡ đần bởi đồng đội trên cánh đồng mía ở Đức Hòa, cách Sài Gòn khoảng 12 dặm, ngày 5 tháng tám năm 1963. Một trung đội 30 lính thủy đánh bộ Việt Nam cộng hòa đang lùng sục du kích cộng sản thì một tràng dài súng tự động đã giết một và làm bị thương 4 lính thủy đánh bộ (AP Photo/Horst Faas)



    8. Một người cha ôm xác con trong khi toán lính biệt kích quân đội Nam Việt ngồi nhìn xuống từ xe thiết giáp ngày 19/3/1964. Đứa trẻ đã bị chết khi lực lượng chính phủ truy đuổi quân du kích trong một ngôi làng gần biên giới Campuchia (AP Photo/Horst Faas)



    9. Tướng William Westmoreland nói chuyện với binh lính thuộc tiểu đoàn 1, trung đoàn 16 thuộc Lữ đoàn 2, Sư đoàn đệ nhất Mỹ tại mặt trận gần Biên Hòa Việt Nam, 1965 (AP Photo)



    10. Ánh nắng xuyên qua tán lá rừng rậm rạp bao quanh thị xã Bình Giã khói lửa, 40 dặm phía đông Sài Gòn, đầu tháng Giêng năm 1965, khi quân lính Nam Việt, có cố vấn Mỹ đi kèm, nghỉ ngơi sau một đêm căng thẳng, ẩm ướt và lạnh lẽo phục kích bất thành một cuộc tấn công của Việt cộng. Một giờ sau, khi khả năng đột kích ban đêm của Việt cộng không còn, quân lính mới bắt đầu một ngày dài nóng nực săn đuổi du kích cộng sản lẩn tránh trong rừng rậm (AP Photo/Horst Faas)

  4. #4




    11. Trực thăng Quân đội Mỹ quần thảo xả súng máy vào hàng cây để yểm trợ tấn công cho lính bộ binh Nam Việt trong một cuộc tấn công một trại Việt Cộng 18 dặm phía Bắc Tây Ninh, tây nam Sài gòn, gần biên giới Campuchia, Việt nam tháng ba năm 1965 (AP Photo/Horst Faas, hồ sơ)



    12. Những người Việt bị thương được cứu giúp khi nằm trên đường phố sau một vụ nổ bom bên ngoài Đại sứ quán Mỹ ở Sài gòn, ngày 30 tháng ba năm 1965. Khói bốc lên từ mảnh vụn trên mặt đất. Ít nhất hai người Mỹ và nhiều người Việt đã bị giết trong vụ nổ. (AP Photo/Horst Faas)



    13. Đại úy Donald R. Brown từ Annapolis, Maryland, cố vấn của tiểu đoàn 2, thuộc trung đoàn Việt Nam 46, nhảy xuống từ trực thăng lao đến vị trí ẩn nấp một đê ruộng lúa trong một cuộc tấn công vào Việt Cộng ở khu vực cách 15 dặm phía tây Sài Gòn vào ngày 4 /4/1965 trong chiến tranh Việt Nam. Đồng sự của Brown, đại úy Di, trưởng toán, vội vã chạy ở phía sau với lính thông tin. Phía Việt nam tổn thương 12 nhân mạng trước khi cánh đồng được chiếm (AP Photo/Horst Faas)



    14. Lính Mỹ đang lùng sục nơi ẩn náu của Việt Cộng tại một con mương lầy lội trong rừng rậm ngày 6 tháng 6 năm 1965, tại Thác Trị An, khoảng 40 dặm Đông Bắc Sài Gòn, Nam Việt Nam (AP Photo/Horst Faas) 



    15. Sự khốc liệt của trận Đồng Xoài được biểu hiện trên khuôn mặt của Trung sĩ quân đội Mỹ Philip Fink, một cố vấn của tiểu đoàn biệt kích Việt nam 52, chụp ngày 12 tháng 6 năm 1965. Đơn vị chịu trách nhiệm chính chiếm lại một tiền đồn trong rừng từ Việt Cộng (AP Photo/Steve Stibbens)

  5. #5




    16. Một quân nhân Mỹ không rõ danh tính mang trên mũ cối dòng khẩu hiệu viết tay ” Chiến tranh là địa ngục”, ở Việt nam ngày 18/6/1965 (AP Photo/Horst Faas, File)



    17. Xe tải tiếp vận quân đội Nam Việt đi vòng một chiếc cầu bị phá hủy trên tuyến đường đi Plei-ku trên đường 19, ngày 18 /7/1965. Cả chiếc cầu nguyên thủy, và chiếc cầu tạm đặt trên nó, đều bị phá hủy bởi Việt Cộng (AP Photo/Eddie Adams)



    18. Lính thủy đánh bộ bị thương nằm trên sàn của trực thăng H34, ngày 19/8/1965 khi họ được di tản từ vùng chiến trận ở bán đảo Vạn Tường (AP Photo) (ND: bán đảo Vạn tường ở Quảng Ngãi)



    19. Phóng viên ảnh Huỳnh Thanh Mỹ của hãng AP theo sát một tiểu đoàn Việt Nam bị gim chặt tại một ruộng lúa ở đồng bằng sông Cửu Long khoảng 1 tháng trước khi ông bị tử trận vào ngày 10/10/1965 (AP Photo) (ND: Ông Huỳnh Thanh Mỹ là anh trai của Nick Út – Huỳnh Công Út)



    20. Lính không quân thuộc sư đoàn Khinh kỵ đệ nhất Mỹ trên một thuyền đổ bộ tiếp cận bờ biển Quy Nhơn, 260 dặm đông bắc Sài Gòn, Việt Nam vào tháng chín năm 1965. Những đơn vị tiên phong gồm 20,000 lính mới đã được đưa vào cho một cuộc tấn công Việt cộng trong chiến tranh Việt Nam (AP Photo)
    Reply With Quote
  6. #6




    21. Lính dù của tiểu đoàn 2, Lữ đoàn không vận 173 của Mỹ giữ vũ khí tự động trên mặt nước khi họ băng qua một con sông trong mưa để truy lùng vị trí Việt cộng trong vùng rừng nhiệt đới ở Bến Cát, Nam Việt Nam, ngày 25/9/1965. Lính dù đã lùng sục khu vực trong 12 ngày mà không thấy bóng dáng đối phương (AP Photo/ Henri Huet)



    22. Lính dù Mỹ bị thương được giúp đỡ bởi đồng đội đến trực thăng tải thương vào ngày 5/10/1965 trong Chiến tranh Việt Nam. Lính dù thuộc tiểu đoàn 1, Lữ đoàn không vận 173 chịu nhiều tổn thất trong cuộc giao tranh với du kích Việt cộng trong khu rừng chiến khu “D” Nam Việt Nam, 25 dặm phía đông bắc Sài gòn (AP Photo)



    23. Sinh viên đại học mang biểu ngữ ủng hộ nước Mỹ quấy rối các cuộc biểu tình chống chiến tranh của sinh viên phản kháng sự can thiệp của Mỹ ở Việt nam tại Đại học Cộng đồng ở Boston, Massachusetts ngày 16/10/1965 (AP Photo)



    24. Pháo đài bay B-52 thả một loạt bom 750 cân Anh tại một vùng duyên hải trong chiến tranh Việt Nam, ngày 5 /11/1965 (AP Photo/USAF)



    25. Cha tuyên úy John McNamara từ Boston làm dấu thánh giá khi ông tiến hành nghi thức cuối cùng cho nhiếp ảnh gia Dickey Chapelle vào ngày 4 /11/1965 ở Nam Việt Nam. Chapelle tháp tùng một đơn vị lính thủy đánh bộ Mỹ trong một trận đánh ở Chu Lai cho tờ National Observer thì bị thương nghiêm trọng cùng với 4 lính thủy đánh bộ do một quả mìn nổ. Cô chết trên trực thăng đến bệnh viện. Cô là phóng viên chiến trường nữ đầu tiên bị chết ở Việt Nam và là nữ phóng viên người Mỹ đầu tiên hy sinh khi làm nhiệm vụ. Thi hài của cô được hồi hương với vệ sĩ danh dự gồm 6 lính thủy đánh bộ và được an táng theo nghi thức của lính thủy đánh bộ. (AP Photo/Henri Huet)

    Nguồn vietlandnews.net

Tuesday, 3 January 2012

591. Án Lệ Hoàng Khương

Án Lệ Hoàng Khương

by Osin HuyDuc on Tuesday, 3 January 2012 at 18:39

Huy Đức

Sự kiện Hoàng Khương bị bắt, chiều 2-1-2012, rồi sẽ trở thành một trong những trường hợp điển cứu liên quan đến đạo lý và pháp lý trong nghề báo. Từ một hành vi cụ thể - thông qua hai người môi giới, Hoàng Khương đưa 15 triệu cho thượng úy Huỳnh Minh Đức để lấy chiếc xe mô tô bị công an tạm giữ vì “đua xe trái phép” - có hai khả năng xảy ra: Hoàng Khương đưa hối lộ rồi “lợi dụng cương vị của mình để viết bài”; Hoàng Khương đã gài bẫy để làm lộ ra đường dây hối lộ.

 

Báo chí ngày 3-1-2012 lấy thông tin từ cơ quan điều tra đã dẫn dắt dư luận hiểu theo hướng thứ nhất. Nội vụ quả là cũng có không ít yếu tố bất lợi cho anh. Trần Minh Hòa, người có xe mô tô bị tạm giữ vì đua xe trái phép là bạn của Nguyễn Đức Đông Anh, theo công an, “cũng là đối tượng đua xe” và là em vợ của Hoàng Khương. Hòa nhờ Đông Anh lấy xe, Đông Anh đồng ý và về nhờ Hoàng Khương lo dùm. Đầu tháng 6-2011, Hoàng Khương đã nhờ Tôn Thất Hòa lo giùm nhưng không được. Tháng 7-2011, khi viết hai bài báo “Xử lý vi phạm giao thông: Trăm sự nhờ cò” và “Có móc ngoặc”, Hoàng Khương gặp lại Tôn Thất Hòa.

 

Sáng thứ Bảy ngày 25-6-2011, sau khi chi “3 chai” cho Thượng úy Huỳnh Minh Đức giúp một chủ xe đầu kéo lấy xe ra sớm và không bị giam bằng lái xe, khoảng 12 giờ trưa, Tôn Thất Hòa kêu Huỳnh Minh Đức ra quán “Vườn xưa”, uống bia và nhờ Đức lấy giúp chiếc xe Trần Minh Hòa. Hòa điện kêu Hoàng Khương lên. Ngay tại bàn nhậu, Hoàng Khương đưa biên bản cho Đức đọc, đưa gói tiền cho Tôn Thất Hòa, Hòa mở đếm thấy đủ 15 triệu, đưa hết cho Huỳnh Minh Đức. Một tuần sau đó, theo công an: “Vì Đức chỉ mới giao xe chứ không trả Giấy đăng ký xe nên Tôn Thất Hòa đã nhiều lần gọi điện thoại cho Huỳnh Minh Đức đe dọa nếu không trả giấy đăng ký xe thì Phóng viên Hoàng Khương sẽ viết báo tiếp, còn trả giấy đăng ký xe thì Hoàng Khương sẽ chỉ viết một bài đầu”. Công An cho rằng Hoàng Khương và Tôn Thất Hòa đưa tiền với mục đích lấy xe, nhưng khi Huỳnh Minh Đức không trả lại giấy tờ thì Hoàng Khương đã lợi dụng cương vị của mình để viết bài, đăng báo.

 

Nếu như sự việc đúng như kết luận này thì Hoàng Khương không chỉ vi phạm pháp luật mà còn vi phạm về đạo đức. Vấn đề là tại sao một phóng viên nội chính “khét tiếng” như Hoàng Khương không chọn cách nhẹ nhàng hơn, nhờ vả. Các phóng viên nội chính biết rõ, chuyện lấy một chiếc mô tô bị tạm giữ không phải là chuyện quá khó với Hoàng Khương.

 

Theo Hoàng Khương tường trình thì sự can dự một cách chủ động vào sự kiện trên đây của anh là nằm trong quy trình tác nghiệp để viết hai bài: “Đồng tiền xóa sạch hồ sơ” và “Giải cứu xe đua trái phép”. Trước đó, Hoàng Khương đã viết một loạt bài đăng trong tuyến bài “ngăn chặn hiểm họa tai nạn giao thông” do Tòa soạn triển khai từ tháng 5-2011. Hoàng Khương nói, anh đã mượn biên bản giữ xe mô tô của Hòa để photo từ trước khi gặp Tôn Thất Hòa. Ngày 24-6-2011, khi thu thập tư liệu về vụ tai nạn giao thông xảy ra đêm 23-6-2011 tại giao lộ Đinh Tiên Hoàng - Bạch Đằng, Hoàng Khương đã nhờ ông Tôn Thất Hòa liên lạc với ông Tuấn, chủ xe gây tai nạn dò hỏi thông tin. Khi biết thượng úy Huỳnh Minh Đức hẹn xử lý vụ tai nạn ở quán cà phê, Hoàng Khương xin đi theo.

 

Diễn tiến sau đó, theo tường trình của Hoàng Khương, cho thấy, anh đến để tác nghiệp chứ không phải để đưa hối lộ: Khương đưa máy ghi âm cho ông Tôn Thất Hòa nhờ ghi lại cuộc nói chuyện rồi ngồi ở bàn riêng để quan sát. Máy ghi âm của Khương ghi được tiếng thượng úy Đức ra giá và lấy của ông Tuấn 3 triệu đồng để lấy xe đầu kéo vừa gây tai nạn ra sớm; tiếng ông Đức chủ động gợi ý để ông dắt xe chở hàng quá tải qua chốt CSGT; tiếng ông Tôn Thất Hòa nhờ xử lý vụ xe mô tô của Trần Minh Hòa; tiếng Đức đồng ý và ra giá “10 chai” rồi họ hẹn nhau ra quán ăn trên đường D5.

 

Ở quán ăn “Vườn xưa”, tường trình của Hoàng Khương khác với thông tin mà báo chí nhận được từ công an: Anh đưa máy ghi âm cho ông Tôn Thất Hòa và ngồi đợi bên ngoài, khi ông Đức chạy xe máy tới, anh còn chụp mấy tấm hình làm tư liệu rồi ngồi trên xe chờ. Khoảng 20 phút sau, ông Hòa chạy ra kêu Hoàng Khương đưa tiền và giấy tờ lên. Do không liên lạc được với Trần Minh Hòa, theo Hoàng Khương, anh đã gọi người xe ôm quen về nhà em vợ là Nguyễn Đức Đông Anh để Đông Anh qua nhà Hòa lấy biên bản và tiền nộp phạt. Khi người xe ôm mang tiền, biên bản ra, Hoàng Khương gọi ông Tôn Thất Hòa ra lấy. Nhưng sau đó, ông Hòa ra gọi Khương vào. Đây là tình tiết đặt anh vào tình huống từ một người quan sát ở bên ngoài trở thành người ngồi chung bàn. Trước mặt Hoàng Khương, Thượng úy Đức mở biên bản ra đọc và nhẩm tính các mức phạt rồi nói giá tiền, tiếp đó, ông Hòa đếm tiền cho tới con số “mười lăm chai”. Khương dùng điện thoại chụp được cảnh ông Đức nhận tiền từ tay ông Hòa. Sau khi Trần Minh Hòa nhận xe. Khương còn tiếp tục tác nghiệp bằng cách phỏng vấn lãnh đạo Đội Cảnh sát Giao thông Bình Thạnh trước khi viết bài “giải cứu xe đua trái phép”.

 

Chắc chắn là còn những thông tin mà chúng ta chưa được biết, kể cả những đồn đoán về nhân thân của anh, nhưng trên cơ sở những gì có thể làm sáng tỏ, khả năng Hoàng Khương gài bẫy để có chất liệu cho các bài viết là đáng tin cậy hơn giả thiết anh viết bài sau khi mục đích hối lộ không đạt được. Hoàng Khương thừa biết, một khi những bằng chứng ấy được ém lại chúng có giá trị “trao đổi” cao gấp trăm lần khi công khai.

 

Vụ Hoàng Khương không chỉ liên quan đến uy tín của tờ Tuổi Trẻ, sinh mệnh pháp lý của Hoàng Khương và những người đã cộng tác với anh để có loạt bài “ngăn chặn hiểm họa tai nạn giao thông” mà còn có thể tạo ra “án lệ”. Sự lên tiếng của Tuổi Trẻ không chỉ bảo vệ một con người mà còn bày tỏ thái độ trước một “thủ pháp nghiệp vụ” đang được tranh cãi trong nghề báo.

 

Luật pháp cũng như thái độ xã hội ở ngay cả các nước có nền báo chí tự do cũng nhìn nhận hành vi gài bẫy khá khắt khe. Nhưng, hơn một thập niên trước đây, báo chí Mỹ, nơi coi “gài bẫy” là bất hợp pháp, cũng đã bắt đầu thay đổi cách nhìn nhận của mình. Bên cạnh “trường phái cổ điển”, cương quyết chỉ đứng ngoài sự kiện quan sát, tường trình, đã xuất hiện trường phái nhập cuộc. Ở Anh, việc gài bẫy được chấp nhận nếu nó giúp phanh phui sự thật về các chính khách và những người có ảnh hưởng đối với công chúng. Nếu Hoàng Khương đã gài bẫy thì hành vi của anh không phải là hối lộ mà là để làm lộ ra một đường dây hối lộ. Trên thực tế, trước khi nhận 15 triệu của Hoàng Khương, Thượng úy Đức đã nhận 3 triệu của ông Tuấn, chủ xe đầu kéo vừa gây tai nạn.

 

Luật pháp Việt Nam cấm các cơ quan tố tụng gài bẫy khi làm án. Nhưng, bóng dáng “Hoàng Khương” đã từng thấp thoáng trong vụ Phương Vicarrent hồi 2003 và vụ Nguyễn Hà Phan mới đây. Các phóng viên nội chính hiểu, tại sao các vụ án bắt mại dâm thường chỉ có hình các cô bán dâm mà không có hình khách mua dâm. Không thể chấp nhận nếu nhà báo gài bẫy các thường dân. Nhưng, nếu gài bẫy để lật mặt hành vi tham nhũng của những kẻ có chức, có quyền, thì cho dù không khuyến khích cũng không nên coi đó là tội phạm. Điều 8, Bộ Luật Hình sự quy định: “Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm, nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải là tội phạm”.

 

Hành vi của Hoàng Khương chỉ nguy hiểm cho những kẻ tham nhũng chứ không hề nguy hiểm cho xã hội. Có thể, sau khi bắt Hoàng Khương trên báo chí chỉ còn tin cảnh sát giao thông trả lại tiền hối lộ chứ không còn “ăn” hối lộ. Nhưng, không phải những thông tin như thế sẽ làm cho xã hội tốt đẹp hơn, bởi điều mà người dân cần là tham nhũng không còn chứ không phải là những nhà báo chống tham nhũng không còn nỗ lực để khui ra tham nhũng.

 

Nhưng, cho dù không có rủi ro pháp lý, thì việc sử dụng gài bẫy như một công cụ của nhà báo cũng là điều không nên làm. Bản thân hành vi gài bẫy đã chứa đựng những rủi ro về đạo đức. Sáng nay, 3-1-2012, Nguyễn Đức Đông Anh em vợ của Hoàng Khương đã bị khởi tố bắt giam. Trước đó, chỉ vì nhiệt tình giúp Hoàng Khương có những bằng chứng như hình ảnh, băng ghi âm để khui ra cả một đường dây, Tôn Thất Hòa cũng đã bị bắt vì trở thành người trung gian hối lộ. Thật khó giải thích khi những bài báo như vậy không được Ban biên tập Tuổi Trẻ bàn bạc và giám sát quy trình. Thật khó để giải thích nếu như hệ thống kiểm soát nội bộ của Tuổi Trẻ không còn khả năng nhận ra để ngăn chặn những sai sót nghiệp vụ nếu hành vi gài bẫy của Hoàng Khương là “tự phát”. 

 

Hôm qua, ngày 2-1-2012, Tuổi Trẻ đưa tin về sự kiện Hoàng Khương bị bắt sau các đồng nghiệp hàng tiếng đồng hồ. Sau cuộc họp giao ban báo chí hôm 23-12-2011, báo giới đã cảm thấy công an sẽ bắt Hoàng Khương. Bản tin của Tuổi Trẻ không cho thấy tờ báo có sự chuẩn bị để phó với một “khủng hoảng” mà mình biết trước. Tất nhiên, có nhiều thông tin cả Ban biên tập Tuổi Trẻ và bạn đọc cũng cần phải đợi kết luật điều tra. Nhưng, không nên phó thác sinh mệnh một người đã viết hơn 50 bài về tiêu cực của công an cho công an định đoạt.

 

Hoàng Khương bị bắt trong hoàn cảnh mà vợ anh đang có bầu ở tháng thứ 5 và một đứa con nhỏ của anh bị bệnh bẩm sinh. Tôi nghĩ, điều mà gia đình anh cần không chỉ là việc được Tuổi Trẻ thuê giùm luật sư mà còn đứng bên cạnh anh như một cơ quan ngôn luận. Cái câu mà Hoàng Khương viết trong tường trình - “Tôi cam đoan những biện pháp nghiệp vụ và tình huống cấp bách buộc phải xử lý nêu trên chỉ nhằm mục đích hoạt động nghiệp vụ báo chí, thu thập thông tin, chứng cứ chứ không hề có động cơ vụ lợi nào khác” - cho đến nay vẫn không thấy xuất hiện trên Tuổi Trẻ. Trong đời làm báo hơn 20 năm của mình, nhiều lần ngồi ở tòa nhìn vào mắt các bị cáo, tôi biết điều họ lo sợ không chỉ là những năm tù đang rình rập mình mà còn là những tiếng kêu của họ không có ai nghe thấy. Ngay cả khi Hoàng Khương có những sai lầm thì, tại thời điểm này, Tuổi Trẻ cũng không nên để anh đơn độc.

Sunday, 1 January 2012

590.HOÀNG KHƯƠNG NỔI SÓNG LÀNG BÁO ĐẦU NĂM.

HOÀNG KHƯƠNG NỔI SÓNG LÀNG BÁO ĐẦU NĂM.

Sau một hơn một tháng kể từ ngày có quyết định đình chỉ công tác của báo Tuổi Trẻ, Hoàng Khương thấy chuyện đối diện với việc khởi tố dần dà nguội đi và anh bắt đầu chủ quan; vượt qua những cơn chấn động tâm lý, nhất là khi BBT Tuổi Trẻ muốn giải quyết với thái độ ôn hòa. Tuy nhiên, ồn ào bắt đầu từ tuần trước, ngay sau khi các Tổng biên tập họp giao ban báo chí về và thông báo: thiếu tướng Phan Anh Minh – phó giám đốc Công An TP.HCM đã tuyên bố trước cuộc họp là “sẽ khởi tố Hoàng Khương”. Ngày 30.12 giới báo chí cả nước sốc trước thông tin “Hoàng Khương đã bị bắt”, tuy nhiên đó chỉ là một nhóm gồm 4 người mặc thường phục và một công an phường mặc sắc phục đến nhà tìm Hoàng Khương. Lúc này Hoàng Khương không có ở Sài Gòn, do đó một người đã kéo qua báo Tuổi Trẻ - gần bên nhà Hoàng Khương; tại đây người này đã rút ra thư mời triệu tập làm việc vào thứ ba, tức ngày mai 3.1.2012 sau khi kết thúc kỳ nghĩ Tết Tây. Nhưng, đó chỉ là một động tác giả!

Sáng nay, lúc 4h Hoàng Khương mới vừa từ Nha Trang trở về Sài Gòn, sau khi đi thăm mẹ đang bị thoái hóa khớp khá nặng. Anh đã có những động thái trấn an gia đình và ổn định tâm lý, chuẩn bị để sáng mai lên PC.46 làm việc; vì với những gì vừa xảy ra thì khả năng bắt tại chỗ theo anh là khá lớn. Tuy nhiên, bất ngờ diễn ra vào lúc 12h00 trưa nay, Phòng CSĐT Công an TP.HCM đã ập đến sớm hơn dự định - tiến hành khám xét và tống đạt quyết định bắt khẩn cấp Hoàng Khương. Có rất nhiều công an bao quanh khu nhà Hoàng Khương, lúc anh bị đưa đi có đại diện báo Tuổi Trẻ và luật sư Phan Trung Hoài chứng kiến. Hoàng Khương "cố tình gài bẫy công an" hay việc "đưa/cầm tiền" chỉ là một sơ xuất trong quá trình điều tra, tác nghiệp khi tình huống nảy sinh bất ngờ buộc phải ứng phó với hoàn cảnh; vẫn còn là việc mà người ngoài chưa tỏ hết. Mong sao các đồng nghiệp hết sức bình tĩnh và cẩn trọng cách đưa tin, phân tích và nhìn nhận vấn đề trong vụ này; tránh cảnh giậu đổ bìm leo và nhụt chí anh em còn máu lửa với nghề!

Bất cứ nghề nghiệp nào cũng có những “chân lý” riêng của mình, làng báo cũng thế. Muốn bình yên, muốn được yêu thì trong một tập thể anh đừng bao giờ trở thành “ngôi sao”. Nhưng vẫn có những người e không chịu hiểu điều đó. Trước "Vụ Hoàng Khương hối lộ CSGT", nếu đem cái tên “Hoàng Khương” ra hỏi làng báo thì 10 người hết 7 người không ưa hoặc tệ hơn là sẽ nói xấu anh. Một lần, ngồi với đám bạn phóng viên mảng nội chính, mới vừa mở miệng nhắc Hoàng Khương tự dưng có đứa nhao nhao tới xỉ vả um xùm. Kể Khương nghe, ảnh trợn mắt hỏi: “Là ai vậy!” Sau khi nói tên thì thấy miệng Khương há hốc vì ngạc nhiên: “Ủa, có biết đó là ai đâu, quen biết hay chơi với nhau hồi nào đâu mà ghét với chẳng ưa!”. Khi Hoàng Khương xảy ra chuyện, gọi cho một bạn Tuổi Trẻ hỏi thăm, bạn ấy cười khà khà sau đó phán một câu xanh rờn: “Yên tâm đi, báo này cứ vài năm là có người ngồi tù!”. Hỏi Khương: “Ăn ở sao mà đồng nghiệp cũng không ưa?”. “Có gì đâu, tại tụi nó hay rủ đi nhậu mà mình không chịu đi…”. Nhưng với nghề nghiệp, Hoàng Khương hay khẳng khái rằng: "Làm điều tra chống tiêu cực; lại là tiêu cực trong ngành công an mà không bị các chú công an nay mời, mai doạ bắt mới lạ. Viết làng nhàng không thấy chú nào hỏi thăm sức khoẻ thì mới nhục. Không ham chút nào…”. Và, câu Khương hay nói: Nếu còn ngày nào cầm bút thì anh vẫn sẽ tiếp tục đối đầu, dẫu biết không cân sức!

Cái lý tưởng của Hoàng Khương, thật ra trong thời buổi này không phải ai ai cũng tán đồng, nhưng chắc chắn rất nhiều người quý nể những kẻ mạnh mẽ, dám lăn xả và tận hiến, có chút máu liều như vậy. Gần đây, Hoàng Khương hay hỏi về những chuyện trong tù và kinh nghiệm...ở tù. Lúc bị bắt, thái độ anh rất điềm tĩnh. Hoàng Khương đã dự cảm và thu xếp hành trang cho một chuyến đi dài…Mong anh chân cứng đá mềm, mạnh mẽ vượt qua và trở về!
(Nguồn : Từ Facebook Cô Gái Đồ Long)

Wednesday, 28 December 2011

589.Mưu đồ can thiệp Đại Việt của nhà Thanh cuối thế kỷ XVIII

TẠP CHÍ XƯA & NAY

Mưu đ can thiệp Đại Việt của nhà Thanh cuối thế kỷ XVIII

SỐ 393 THÁNG 12 – 2011

Nguyễn Duy Chính

Đường lối bành trướng của Trung Quốc

Trước tình hình rối ren của Đại Việt cuốỉ thế kỷ XVIII, việc đem binh xuống phương nam không phải chỉ vì cái cơ hội nhất thời, mà đã nằm trong kế hoạch mở rộng biên cương của nhà Thanh từ lâu. Vua Càn Long muốn tỏ ra mình là một vị vua dũng liệt nên tìm đủ mọi cách để bành trướng thế lực và lãnh thổ ra mọi phía.

Nhà Thanh trong nửa cuối thế kỷ XVIII đã có ảnh hưởng quan trọng đối với Xiêm La khi một người Tàu gốc Quảng  Đông tên là Trịnh Chiêu vì có công đánh đuổi quân Miến Điện nên lên làm vua (tức vua Taksin). Ồng ta sai sứ sang Bắc Kinh cầu phong nhưng sứ giả chưa kịp về đến nhà thì Trịnh Chiêu đã bị một tướng lãnh của ông ta là Maha Kasatsuk lật đổ lên làm vua tức Chakri(1) hay Rama I. Chakri cũng sợ nhà Thanh truy cứu việc giết vua Taksin nên đổi tên Hán là Trịnh Hoa, mạo xưng là con của Trịnh Chiêu để nối ngôi và được phong làm Xiêm La quốc vương. Nhà Thanh cũng nhân cơ hội tìm cách vươn dài ảnh hưởng tới thành phần Hoa kiều ngày càng trở nên có thế lực cả kinh tế lẫn chính trị ở vùng Đông Nam Á(2).

Ngoài Xiêm La, nhà Thanh cũng tìm cách mở rộng ảnh hưởng xuống Miến Điện Cũng như Việt Nam, Miến Điện luôn luôn bị áp lực trực tiếp vì có một khoảng biên giới tiếp giáp với nước Tàu. Người Miến cũng là một dân tộc quật cường, luôn luôn chống lại và có những thắng lợi rất tương cận với thắng lợi của Đại Việt(3).

Tới nửa cuối thế kỷ XVIII, nhà Thanh lấn chiếm một số khu vực phía tây và tây nam tỉnh Vân Nam nhưng người Miến cương quyết đòi lại. Năm Ất Dậu, Càn Long 30 (1765), vua Miến Hsin- byushin bắt một số tiểu quốc người Shan triều cống nên gây chiến với một số bộ lạc mà người Trung Hoa bảo trợ. Quân Thanh thua, tổng đốc Vân Nam Lưu Tảo tự sát. Năm Đinh Hợi, Càn Long 32 (1767), tổng đốc kế nhiệm là Dương Ứng Cư cũng bị đánh bại khiến vua Càn Long nổi giận đem họ Dương ra xử tử rồi sai Minh Thụy đem quân sang đánh Miến Điện. Năm Mậu Tý, Càn Long 33 (1768), Minh Thụy bị vây và tử trận. A Quế, vị tướng lừng danh của Thanh triều trong các trận đánh Tân Cương, Mông cổ đem quân sang lần thứ ba năm Kỷ Sửu, Càn Long 34 (1769) nhưng cũng bị đại bại.

Sau ba lần thua Miến Điện, nội bộ Thanh triều đã có những rạn nứt và bất đồng, nhiều tướng tài bị hi sinh, nhất là vua Miến Hsinbyushin lại cứng đầu không chịu thần phục. Một số tướng lãnh và quân sĩ bị bắt làm tù binh không được thả và vua Càn Long đành phải chấp nhận rằng Miến Điện là xứ nóng không thích hợp cho kỵ binh nhà Thanh như khi chinh phục vùng Tân Cương(4). May sao, quân Miến lúc này phải đối phó với quân Xiêm La và Lào tấn công ở phía nam nên nhà Thanh có cơ hội đàm phán cầu hòa cho đỡ mất mặt. Để trừng phạt, vua Càn Long hạ lệnh cấm thông thương với Miến Điện và hai bên chỉ trở lại bình thường năm Mậu Thân, Càn Long 53 (1788), mấy tháng trước khi họ đem quân sang nước ta.

Riêng với Đại Việt, Thanh đình vẫn e ngại bị thất bại như những triều trước nên không muốn chủ động gây chuyện can qua. Việc nước ta chia thành hai miền Đàng Trong và Đàng Ngoài vô hình trung phù hợp với chủ trương không muốn có một quốc gia cường thịnh ở phương nam. Đã nhiều lần xứ Đàng Trong toan tách ra đi thẳng với Thanh triều thay vì phải thần phục vua Lê ở miền Bắc nhưng vì không muốn tạo ra những khó khăn mới nên nhà Thanh chưa bằng lòng. Đến khi nhà Tây Sơn nổi lên, thế phân liệt Nam Bắc cũ đã mất, Thanh triều nhìn thấy đây là một cơ hội để can thiệp vào phương nam, rồi sẽ tùy theo tình hình mà khai thác. Việc thân quyến và bầy tôi nhà Lê chạy trốn sang Long Châu phù hợp với tham vọng đó.

Thoạt tiên, nhà Thanh vẫn chủ trương làm sao cho những phiên thuộc không quá mạnh, nên muốn Việt Nam chia ra thành ít nhất là hai tiểu quốc. Tôn Sĩ Nghị vì thế đã đưa ra kế hoạch chia cắt Đại Việt thành hai phần(5), miền Nam sẽ giao lại cho Xiêm La (khi đó đang khống chế cả Chân Lạp), và miền Bắc dành cho nhà Lê (dưới quyền bảo hộ của nhà Thanh). Tuy nhiên vua Càn Long đã bỏ kế hoạch đó vì không muốn cho Xiêm La nhúng tay vào, ngại rằng sẽ làm mất thể diện thiên triều phải liên minh với một thuộc quốc(6).

Dựa theo tin tức thu lượm được, vua Càn Long đưa ra một kế hoạch kẻ cả hơn. Đó là giao miền Trung lại cho Chiêm Thành lấy cớ nước này đã từng triều cống xưng thần với Trung Hoa trong mấy thế kỷ mà không biết rằng vương quốc Chiêm nay không còn và những vùng đất cũ của họ nay chỉ toàn người Việt(7). Vua Càn Long cũng chủ trương dùng người Việt đánh người Việt, quân Thanh càng ít tổn thất càng tốt. Trong một lá thư gửi Tôn Sĩ Nghị, vua Càn Long đã viết:

Bọn chúng (tức bầy tôi nhà Lê ở Bắc Hà) khi nghe quân Thiên triều đến chinh phạt, t sẽ nổi lên hưởng ứng rất đông, tính chuyện diệt Nguyễn phù Lê, nếu như ta án binh bất động, bọn họ không khỏi có dạ trông chờ. Đây là một cơ hội rất tốt, xem ra khi đó quan quân nội địa (tức quân Thanh) ở vào cái thế không thể không hành động…(8).

Chiến lược đó không phải mới mẻ gì vì cũng là đại kế hoạch mà người Mãn Châu trước đây đưa ra để làm chủ Trung Nguyên. Khi thôn tính nhà Minh, người Mãn Châu cũng nêu cao danh nghĩa giúp người Hán tái lập một vương triều trong sạch hơn triều đình thối nát hiện đang trị vì. Công lao lấy được trung nguyên cũng phần lớn nhờ vào nội phản, điển hình là các tướng lãnh nhà Minh có nhiệm vụ ngăn chặn những giống dân du mục nay trở giáo chạy theo quân Thanh.

Sau khi làm chủ Giang Bắc, họ cũng sử dụng những tướng lãnh nhà Minh đã đầu hàng để chiếm nốt miền Nam Trung Hoa, kể cả việc truy sát những ông vua cuốỉ cùng của Minh triều đang trốn lánh trong rừng sâu núi thẳm. Họ đã được phong vương, cai trị một cách khá độc lập nhiều khu vực lớn mà sử gọi là Tam Phiên, mấy chục năm sau mới bị tước đoạt quyền bính(9). Với kinh nghiệm đó, người Mãn Châu muốn trước hết nhờ tay đám thần tử nhà Lê tiễu trừ Tây Sơn, sau đó sẽ phong vương cho họ theo nghĩa phiên trấn nội thuộc như bọn Ngô Tam Quế, Cảnh Trọng Minh, Thượng Khả Hỉ, rồi dần dần biến thành quận huyện của Tàu như chính sách thời đầu nhà Thanh. Kế hoạch đồng hoá từng bước đó đã thành công tại những quốc gia Tây Vực và họ cũng toan áp dụng ở phương nam.

Kế hoạch của nhà Thanh

Để đem quân sang nước ta, ngoài việc tính toán cho chu đáo, sao cho lợi nhiều hơn hại, giảm thiểu về nhân mạng cũng như về tài chánh, nhà Thanh cần một danh nghĩa để che đậy những dã tâm của họ(10). Do đó Tôn Sĩ Nghị cần những bằng chứng cụ thể để thuyết phục vua Càn Long cho phép động binh.

Cho đến nay, các sử gia Trung Hoa vẫn khăng khăng cho rằng việc nhà Thanh đem quân sang giúp Lê Chiêu Thống là một hành vi “nhân chí nghĩa tận” (hết sức nhân nghĩa) hoàn toàn chỉ vì mục tiêu muốn dựng lại dòng chính thống cho nhà Lê chứ không có âm mưu chiếm đóng hay tham vọng đất đai nào.

Theo lời tâu của Tôn Sĩ Nghị (tổng đốc Lưỡng Quảng) và Tôn Vĩnh Thanh (tuần phủ Quảng Tây) thì khi vua Hiển Tông thăng hà, “hoàng tôn Lê Duy Kỳ không có quốc ấn vì khi họ Trịnh còn nắm quyền đã ăn trộm mất ấn tín để mưu việc soán đoạt. Lê Duy Kỳ có viết biểu tâu lên để xin một quả ấn khác (tức ấn An Nam quốc vương của nhà Thanh phong cho) nhưng Tôn Sĩ Nghị chưa tiếp được bản cáo ai, lại chưa được chiếu chỉ cho phép nên đã từ chốỉ”(11). Căn cứ vào đó, hoàng tôn Lê Duy Kỳ được coi như dòng chính thống và việc Nguyễn Huệ chiếm Thăng Long là một hành vi tiếm nghịch nên nhà Thanh phải can thiệp để lấy lại nước cho vua Lê.

Để thực hiện âm mưu lũng đoạn, chiến dịch đem quân can thiệp của nhà Thanh bao gồm hai giai đoạn chính:

Tái chiếm Bắc Hà để giao lại cho nhà Lê

Để đem quân sang nước ta nhà Thanh nêu cao chủ trương “Hưng diệt kế tuyệt, phất lợi kỳ thổ địa thần dân” [Hưng lên kẻ bị diệt, nối lại dòng bị đứt, không mưu lợi đất đai hay dân chúng]:

- Lê triều đã thần phục và triều cống Trung Hoa trong hơn một trăm năm qua [chỉ tính riêng nhà Thanh vì mỗi khi mệnh trời đổi coi như một nước mới]. Việc nối lại triều Lê là một hành vi thích đáng vì thiên triều có bổn phận với thuộc quốc, không thể để cho loạn thẩn ngang nhiên cướp ngôi một dòng họ đã được họ công nhận chính thức.

- Vua Càn Long cũng khẳng định là việc đem quân sang nước ta không phải vì có tham vọng Muốn chiếm đất đai hay dân chúng. Trong nhiều văn thư, ông cũng ra lệnh đem gạo thóc từ “nội địa” sang để nuôi quân, không tơ hào tài sản của nước Nam và ra lệnh cho Tôn Sĩ Nghị ước thúc quân lính không cho quấy nhiễu.

Tiến quân đánh Thuận Hóa

Dự tính nguyên thủy của Thanh triều không chỉ lấy kinh đô Thăng Long rồi giao lại cho nhà Lê mà coi việc tái chiếm Bắc Hà mới là bước đầu. Một khi thành công, quân Thanh sẽ tiếp tục đánh xuống Thuận Hóa để “đảo huyệt cầm cừ” [đánh vào sào huyệt bắt kẻ cầm đầu] rồi tùy theo tình hình mà chia nước ta thành nhiều khu vực tự trị. Từ vị trí một ngoại phiên (tương tự như Triều Tiên, Lưu Cầu, Xiêm La…), An Nam sẽ trở thành một nội phiên như Tây Tạng, Mông cổ, Tân Cương… tuy vẫn do những lãnh tụ bản xứ cai trị nhưng thực chất chỉ là những quan lại do triều đình bổ nhiệm.

Âm mưu đó trước khi xuất chinh còn mơ hồ – chỉ mới nằm trong những mật tấu của Tôn Sĩ Nghị – thì sau khi chiếm được Thăng Long lại trở nên khá rõ rệt. Có lẽ việc tiến quân quá dễ dàng khiến vua Càn Long và Tôn Sĩ Nghị đều tin rằng quân Thanh có thể làm hơn thế nữa. Ngay sau khi chiếm được Thăng Long, Tôn Sĩ Nghị liền tính toán kế hoạch đóng thuyền và lập đài trạm từ Thăng Long vào Thuận Hóa để đến ra giêng tiến quân xuống phương Nam. Tuy nhiên kế hoạch đó không thực hiện được vì những khó khăn về quân đội, lương thực, nhân sự, tài chánh… nhất là e ngại một cuộc sa lầy tại phương nam giống như tại Miến Điện trước đây nên vua Cao Tông đã ra lệnh rút quân về.

Ngày 19 tháng 6 năm Càn Long 53 [22-7-1788], vua Cao Tông gửi một đạo dụ cho Tôn Sĩ Nghị dịch ra như sau(12):

Lưỡng Quảng, tổng đốc Tôn Sĩ Nghị tâu lên, tiếp theo căn cứ vào lời bẩm của Tả Giang Trấn thì thân quyến tự tôn nước An Nam chạy qua nội địa nên ta đã ra lệnh cho tùy nghi lo liệu, lại sai người đến ngay Long Châu, xem xét tình hình để tâu lên cho rõ ràng. Việc này trước đây khi Tôn Vĩnh Thanh tâu lên, trâm sợ rằng viên tri  phủ đó không có chủ kiến nên lập tức giáng chỉ ra lệnh cho Tôn Sĩ Nghị lập tức tra xét lo liệu.

 Hiện nay viên tổng đốc kia chưa đợi dụ chỉ đã khởi trình đến trước rồi, như thế thực là biết việc nặng nhẹ, không thẹn là kẻ đại thần ở biên cương, thật đáng khen ngợi. Trong tấu triệp của Tôn Vĩnh Thanh trước đây, chưa biết tung tích của tự tôn Lê Duy Kỳ đang ở đâu, mà chạy sang đến hơn sáu chục người thì có liên hệ thế nào? Trẫm đã từng ra lệnh tra xét cho thấu đáo, rồi tâu ngay lên cho ta.

Nay cứ theo như lời tâu của Tôn Sĩ Nghị, lúc đầu cứ tưởng có cả Lê Duy Kỳ đi theo. Thế nhưng nếu ví thử Lê Duy Kỳ đích thân dẫn quyến thuộc sang nội địa thì cớ gì lại phải ra lệnh cho di quan Nguyễn Huy Túc đứng tên, còn bọn thổ tù Nguyễn Nhạc kia sau khi công phá Lê thành, thấy Lê Duy Kỳ bôn đào nên dn binh truy sát. Nếu cả nước đã bị họ Nguyễn chiếm mất rồi, ắt Lê Duy Kỳ mang quyến thuộc theo, tuy không quá 60 người, nhưng lẽ  nào đi đường không lo liệu tính toán gì mà đến được nội địa?

Lê Duy Kỳ nếu đã đến Long Châu nên truyền dụ cho Tôn Sĩ Nghị đến đó tận mặt hỏi Lê Duy Kỳ xem việc họ Nguyễn nổi loạn ra sao, hai bên vì cớ gì gây hấn, gặp nạn chạy sang nội địa cốt  lo bảo toàn tính mạng mẹ  con mà phải bỏ đất cho họ Nguyễn. Y bỏ nước chạy sang đây rồi, trong nước thần tử có ai lo chuyện diệt giặc khôi phục để nghinh đón mẹ con y vê hay không, xem chủ kiến y thế nào?

 Nếu như Lê Duy Kỳ  cũngng không biết rõ ràng thì nên hỏi bọn Nguyễn Huy Túc để cho rõ tình hình nước đó ngõ hầu theo tình hình mà trù biện. Theo ý trẫm thì vì quẫn bách mà tự tôn nước đó chạy sang nội địa, tuy trình lên không có giọng muốn xin quân cứu viện, nhưng nếu trấn mục nước đó có thể tụ tập dân binh, tảo trừ hung nghịch đón tự tôn về thì thế là tốt nhất. Còn như nhà Nguyễn đã chiếm được cả địa phương ở Lê thành nhưng các nơi khác vẫn thuộc họ Lê, các trấn mục không diệt được họ Nguyễn nhưng việc đã định vẫn có thể sắp xếp cho ổn thỏa để nghinh đoán tự tôn thì đất nước của nhà Lê cũng chưa đoạn tuyệt, cũng không cần phải hưng sư cho lớn chuyện làm gì.

Còn như họ Nguyễn công phá Lê thành xong chiếm hết nước An Nam, con cháu nhà Lê bị giết hại thì tự tôn nước đó không còn nước mà trở về. An Nam thn phục bản triều, rất là cung thuận, nay bị cường thần soán đoạt phải chạy sang đây nếu như ta bỏ qua không lý đến thật không phải là cái đạo tn vong nên phải tập trung binh lực kể tội sang chinh thảo.

Trẫm nay đã định đoạt rồi, lại truyền dụ cho Tôn Sĩ Nghị, tuân theo dụ chỉ trước đây, xem két kỹ lưỡng thêm nữa, trù biện cho chín chắn, cứ theo tình thực mà nhanh chóng tâu lên ta s đợi tới khi đó sẽ hạ chỉ để cho biện lý. Còn về phn thân thuộc của Lê Duy Kỳ thì nên sắp xếp cho ổn thỏa, cung cấp thêm chớ nên hẹp hòi, còn như các nơi cửa quan thì điều động một nghìn binh sĩ phân b ra trấn đóng.

Ngặt vì binh lính không có nhiều,  e rằng bọn phỉ thấy quan ít ỏi đâm ra coi thường thì hãy điều động thêm các nơi chung quanh hai ba nghìn lính na, phân  b‘ quan ải để làm thanh viện, đ đốc Tam Đức là người từng chinh chiến lâu năm, nên sai y đến đây thông lãnh, họp với việc đàn áp tra xét, không cần phải lo gì nữa. Còn Tôn Sĩ Nghị sau khi nghe bẩm báo, lập tức lên đường đến ngay thật đúng như ý trm, hịch văn cũng thật là đắc thể, ngoài những điều trm đã nói cũng không có gì khác, nay thưởng thêm cho một đôi hà bao lớn, một đôi hà bao nhỏ để tưởng lệ. 

Cùng ngày hôm đó, Tôn Sĩ Nghị tâu lên rằng một khi hư trương thanh thế, truyền hịch đem quân sang đánh nước Nam, ắt nhứng người đã theo Tây Sơn sẽ nổi lên chống lại, và nhà Thanh không phải hao quân tổn tướng mà vẫn đạt được thắng lợi’13‘. Vả lại, An Nam vốn chẳng phải là đất của Tây Sơn nên khi nghe tin quân Thanh sang đánh, họ sẽ rút về Quảng Nam không luyến tiếc. Mục tiêu gần của anh em Nguyễn Nhạc là thu vét tài vật thì họ đã làm xong, chiếm lĩnh đất đai chỉ là thứ yếu nên chắc chắn ra quân sẽ thành công.

Nói tóm lại, chủ trương của Thanh triều là làm sao tìm được vua Lê để tiền hô hậu ủng đưa ông về Lê thành [kinh đô Thăng Long], phong vương rồi can thiệp càng lúc càng sâu vào nội tình nước ta như một vùng nội phiên. Điều lợi trước mắt là vua Lê sẽ đích thân tham dự lễ Bát Tuần Khánh Thọ, vừa chúc mừng, vừa tạ ơn đúng như ước nguyện của vua Càn Long để ông có dịp phô trương với mọi người về chính sách “nhân chí nghĩa tận” đối với thuộc quốc. Cơ hội nghìn năm một thuở này sẽ bắc cầu cho tiền trình thăng quan tiến chức của Tôn Sĩ Nghị.

Chiêu bài “Hưng diệt kế tuyệt”

Sau khi nhận được chỉ dụ của vua Càn Long, Tôn Sĩ Nghị xem xét tình hình mọi việc, ngày mồng 8 tháng 7 năm Mậu Thân, Càn Long 53 [9-8-1788] tâu lên chính yếu dịch ra như sau:

Tra xét việc hai họ Lê Nguyễn thù hằn giết chóc ln nhau nguyên do đã từ lâu. Theo lời bọn Nguyễn Huy Túc thì Nguyễn Nhạc là một họ nhỏ đất Tây Sơn, không phải họ lớn phụ chính (tức chúa Nguyễn ở Đàng Trong) nhưng hai bên đánh ln nhau cũng đã nhiều năm. Nay đất An Nam (nói về Bắc Hà) một nửa thuộc về Nguyễn Nhạc còn tự tôn vẩn làm chủ một giải Sơn Nam, đất đó có thể giữ được, quân binh có thể chiến đu, xem ra dòng nhà Lê chưa đến nỗi tuyệt, tước mà bản triều phong cho vẫn còn.

Còn như đất đai khi rộng khi hẹp, quốc thế lúc thịnh lúc suy, ngoại phiên của thiên triều thật nhiều, thế không thể lấy thước tấc mà đo, không phải lúc nào cũng lấy binh mã lương tiền của nội địa mà bao biện cho được. Nếu Nguyễn Nhạc có bụng chiếm cả nước An Nam, không để cho tự tôn một tấc đất, một nước triều cống trong một trăm mấy chục năm qua, nay bỗng dưng bị diệt, thực có liên quan đến thể thống thiên triều, không thể không điều động quan binh phạt bạo thảo tội.

(Ớ đây có lời châu phê của vua Càn Long: Trẫm phân vân chính là ở chỗ đó)

Dụ chỉ của hoàng thượng thật công bằng ngay chính, thần chỉ biết tùy thời tùy việc mà tuân theo biện lý.

Xin để cho thần tìm hiểu dư luận cho kỹ lưỡng, hỏi cặn kẽ tình hình nước man di kia, nếu như Nguyễn Nhạc có bụng gây họa, muốn chiếm cả nước An Nam thì nội địa không thể chỉ vì họ Lê trợ thế dương uy, e rằng tự tôn khó có thể giữ được nước, càng lúc càng tan rã, lúc đó Nguyễn Nhạc có cả nước An Nam, khí cục đã thành, không thể không hao phí binh lực nội địa, đến lúc đó cũng đã muộn rồi, thành thử thần xin được điều bát binh lực các nơi chung quanh, huấn luyện thao phòng, nói rõ định ngày ra quân, chia đường tiến đánh(14).

Nguyễn Huệ cũng hay biết tin này nên sai quân trấn thủ Văn Uyên là Hoàng Đình cầu và Nguyễn Đình Liễn đem lễ vật lên tiến cống, trên từ biểu ký tên là Nguyễn Quang Bình(15). Tuy chưa biết rõ tình hình ra sao nhưng Tôn Sĩ Nghị cũng hư trương thanh thế để dò xem phản ứng của quân Tây Sơn thế nào. Ngày mồng 1 tháng 7 năm Càn Long 53 [2-8-1788], Tôn Sĩ Nghị đích thân đến Nam Quan ra lệnh cho phó tướng Vương Đàn hiện đang chỉ huy hiệp Tân Thái đứng trên cửa quan, lớn tiếng đọc bản hịch kết tội rồi ném hịch văn qua bên ngoài tường để cho quân Tây Sơn nhặt được(16).

Trong tình hình đó, vua Càn Long ra lệnh cho Quân Cơ Xứ nghiên cứu tình hình, đến ngày mồng 5 tháng 7 năm Càn Long 53 [6-8-1788], A Quế trình lên dịch ra như sau(17):

Nước An Nam kia ở nơi phương nam xa xôi nóng nực, từ khi kiến quốc tự đời Tống đến nay, họ Nguyễn, họ Lý, họ Trần, họ Lê qua mây đời soán đoạt tranh chấp lẫn nhau. Đời Vĩnh Lạc nhà tiền Minh, nhân vì Lê Quí Ly cướp ngôi nhà Trần nên đã ba lần sang dẹp loạn, mất đến hơn chục năm, ngặt vì dân nước đó tính tình phản phúc, nên cũng phải bỏ về nhân vì họ Trần vô hậu, khi Lê Lợi cầu phong liền sách lập trở lại.

Về sau hai họ Lê Mạc tranh giành nhiều năm, triều ta uy đức tràn đầy nên nước đó khuynh tâm thần phục, triều cng không dứt. Nhưng họ Lê không tự phấn chấn lên được, bị cường thần chế ngự, hiệu lệnh lại không ban bố xuống được toàn cõi, nguy cơ từ đó mà ra. Nay Lê Duy Kỳ bị Nguyễn Nhạc bức bách phải bôn đào, theo lời bọn di mục Nguyễn Huy Túc thì tự tôn nay chạy về một giải Sơn Nam mưu tính chuyện khôi phục.

Nếu như lòng người còn nhớ đến triều đại cũ, Lê Duy Kỳ có thể tụ tập binh dân tiễu trừ được Nguyễn Nhạc, thu phục Lê thành, nghinh đón quyến thuộc trở về. Hoặc giả tuy Lê Duy Kỳ hiện đang trn tránh, các di mục cũng có thể đón tự tôn mưu tính việc khôi phục, theo như thánh dụ đợi cho đến lúc mọi sự đã định, lúc đó sẽ đón quyến thuộc về nước, không cần phải hưng sư làm cho lớn chuyện. Còn như tất cả nước An Nam đã bị Nguyễn Nhạc chiếm đóng rồi, đợi cho Tôn Sĩ Nghị tra xét rõ rằng tin tức cùa Lê Duy Kỳ, tâu lên, nặng hay nhẹ, gấp rút hay thư thả, khi đó phải làm gì ắt thánh minh sẽ có biện pháp.

Quân Cơ Xứ là cơ quan quyền lực tối cao của nhà Thanh, chỉ sau hoàng đế, mọi việc đều do tập thể nhỏ bé này quyết định, A Quế là người đứng đầu nhưng chỉ trình lên rất chung chung, đủ biết họ không muốn can thiệp vào việc này. Trước đây, sử thường cho rằng những việc liên quan đến nước ta có thể lo lót một cá nhân mà xong việc. Thiển kiến đó xét ra không phù hợp với thực trạng đưa đến những nhận định sai lạc.

Chúng ta có thể khẳng định rằng các đại thần nhà Thanh đã không hưởng ứng việc đưa quân sang nước ta, việc động binh là do ý riêng của vua Càn Long và Tôn Sĩ Nghị, không thông qua quyết định của Quân Cơ Xứ.

CHÚ THÍCH:

1. Chakri nguyên nghĩa là nguyên soái hay tướng quân vì trước đây ông ta chỉ huy quân đội của Phraya Tak- sin và dùng tên này làm tên triều đại.

2. Đông Nam Á người Trung Hoa gọi là Nam Dương (biển phía nam) bao gồm khu vực mà ngày nay chúng ta đặt tên là Southeast Asia, Mã Lai A, Indonesia, Philippines.

3. Năm 1273, khi Nguyên Thế Tổ (Kubilai) nhà Nguyên đòi vua Miến triều cống và thân hành sang chầu, vua Miến Điện đã xử tử sứ giả. Năm 1277, nhà Nguyên đem quân từ Vân Nam xuống đánh, thắng được tại vùng lòng chảo Nam Ti nhưng người Miến vẫn không chịu khuất phục. Năm sau, 1278, nhà Nguyên lại đem quân sang đánh lần nữa, nhưng vẫn không tiến được đến kinh đô Bhamo. Khí hậu viêm nhiệt nhất là bệnh dịch đã khiến cho quân Mông cổ tổn thất nặng nề.

Năm năm sau, 1283, một đạo quân do tướng Mông cổ Singtur (thay vì do người Hồi chỉ huy như trước đây) tiến đánh thung lũng Ir­-rawaddy và ép vào kinh thành khiến, vua Miến phải lui về vùng đầm lầy để chống trả. Đến năm 1287, quân Nguyên chiếm được Miến Điện (khi đó có tên là Pagan) và sáp nhập vào đế quốc Mông cổ. Miến Điện chỉ thu hồi được lãnh thổ khi nhà Nguyên bị diệt vong. c.p. Fitzgerald, The Southern Expansion of the Chinese People, New York-Washington, Prae- ger Publishers, 1972, tr.81.

4. Alexander Woodside, “The Ch’ien-LungReign”, trong Willard J. Peterson (ed.), The Cambridge His­tory of China, Vol. 9, Part One: The Ch’ing Dynasty to 1800. Cambridge University Press, 2002, tr.264-68.

5. Để phá vỡ quyền lực của Nguyễn Huệ, Tôn Sĩ Nghị đề nghị với Càn Long rằng Việt Nam cần phải được chia cắt ra. Miền trung Việt Nam sẽ được thưởng cho Xiêm, để trả công cho sự giúp đỡ của Thái chống anh em Tây Sơn. Rõ ràng là đối với Tôn Sĩ Nghị và Càn Long, vua Lê mà họ đang ủng hộ hoàn toàn không có khả năng, ngay cả trong việc làm một lãnh tụ tượng trưng. Ban đầu, Càn Long nghĩ rằng một liên minh quân sự với triều đình Thái “dường như là một thứ có thể thực hiện được”. Sau đó ông bác bỏ ý tưởng này, không phải vì nó vô đạo đức về mặt chính trị, mà bởi nó sẽ cho thấy sự nhỏ mọn trước vua Thái, thậm chí tệ hơn là phá hoại danh tiếng ông có được trong chiến thắng Sinkiang với việc chỉ sử dụng quân đội của mình và không chấp nhận sự giúp đỡ của “thế lực quân sự bên ngoài”. Alexander Woodside, Sđd, tr.277.

6. Tuy nhiên theo một lá thư của giáo sĩ Le Labousse gửi từ Sài Gòn ngày 15 tháng 6 năm 1789 thì Nguyễn Ánh đã bắt được một bức thư của vua Càn Long gửi vua Xiêm yêu cầu đánh vào mặt nam Đại Việt (Le Roy d’ici (tức Nguyễn Ánh) a intercepté une lettre écrire au nom de L’empereur de Chinois au Roy de Siam pour lui dire de venir attaquer les T.s. de coté-ci par la Cochinchine). Nguyễn Nhã, “Một Thiên Tài Quân Sự”, trong Một vài sử liệu về Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ. Cali, Đại Nam, 1992, tr. 107-8, cước chú 38.

7. Alexander Woodside, Sđd, tr.277.

8. Trang Cát Phát, Thanh Cao Tông Thập Toàn Võ Công Nghiên Cứu, Đài Loan, Cố Cung Tùng San, Giáp Chủng số 26, 6-1982, tr.362.

9. Đời Thuận Trị, nhà Thanh phong cho Ngô Tam Quế làm Bình Tây Vương trấn đóng ở Vân Nam, Cảnh Trọng Minh làm Tĩnh Nam Vương, trấn đóng Phúc Kiến, Thượng Khả Hỉ làm Bình Nam Vương, trấn đóng Quảng Đông. Tam Phiên khi đó được giữ trọng binh, thế lực càng lúc càng lớn. Tháng 3 năm Khang Hy thứ 12 (1673), Thượng Khả Hỉ dâng sớ xin cáo lão về Liêu Đông để cho con là Thượng Chi Tín kế vị, nhân cơ hội đó triều đình xuống chiếu triệt phiên. Tới tháng 7, Ngô Tam Quế và Cảnh Tinh Trung (con của Cảnh Trọng Minh) cũng dâng sớ xin triệt binh, vua Khang Hy liền ra lệnh cho cả 3 phiên di chuyển ra ngoài Sơn Hải Quan. Ngày 21 tháng 1, Ngô Tam Quế khởi binh chống lại nhà Thanh, tuyên bố ủng lập Chu Tam Thái Tử (tức Chu Từ Quýnh, con của Sùng Trinh hoàng đế, khi đó thất tung nhưng người Hán dùng danh vị để phát động phong trào phản Thanh phục Minh), viết thư cho Cảnh Tinh Trung, Thượng Khả Hỉ cùng khởi sự, gây ra cái loạn Tam Phiên. Năm Khang Hy thứ 17, Ngô Tam Quế xưng đế ở Hành Châu, quốc hiệu Đại Chu nhưng chẳng bao lâu thì từ trần, cháu là Ngô Thế Phan kế vị. Ngày 19 tháng 10 năm Khang Hy thứ 20, quân Thanh đánh tới Côn Minh, Ngô Thế Phan tự tử, loạn Tam Phiên chấm dứt, tổng cộng 8 năm.

10. Mỗi lần nhà Thanh động binh đều phải tìm một cớ “chính đáng”, không bình định nội loạn thì cũng chinh phạt ngoại hoạn… Tuỳ trường hợp mà họ dùng một động từ thật kêu chẳng hạn như bình định Kim Xuyên, đãng bình Chuẩn Cát Nhĩ, chinh phục Hồi bộ, thảo phạt Miến Điện, tĩnh tuy Đài Loan, thảo hàng An Nam…

11. Lai Phúc Thuận, Càn Long trọng yếu chiến tranh chi quân nhu nghiên cứu, Đài Bắc, Quốc Lập Cố Cung Bác Vật Viện, 1984, tr. 30, trích từ Cung Trung Đáng, Cố Cung Bác Vật Viện, tấu chương của hai họ Tôn ngày mồng 8 tháng 5 năm Càn Long thứ 52 [22-6-1787]: “Nhiên dĩ vong thất quốc chi ấn tín, nhân Trịnh thị thiện quyền thời, tằng thiết đoạt quốc ấn, mưu thủ soán vị. Lê Duy Kỳ nãi tư thỉnh bằng tín, Lưỡng Quảng tổng đốc Tôn Sĩ Nghị dĩ kỳ vị kinh cụ bản cáo ai, thượng vị phụng chỉ thừa tập, bất tiện tiên cấp ấn tín, cự chi”.

12. Thanh Cao Tông thuần hoàng đế thực lục [Thanh Thực Lục], q 1307, tr 9, ỷ tín thượng dụ ngày Canh Tuất, tháng Sáu, Càn Long năm thứ 53. Trang Cát Phát, Sđd, tr.348-9.

 13. Nguyên văn theo tấu thư là “điếu phạt chi sư vị động, hưng kế chi nghiệp khả thành” quân điếu phạt chưa cần ra tay thì công việc làm cho kẻ mất nghiệp kia được trở lại đã thành rồi.

14. Trang Cát Phát, Sđd, tr.349. Cung Trung Đáng, CCBVV, tấu triệp của Tôn Sĩ Nghị đề ngày mồng 8 tháng 7, Càn Long thứ 53 (1788); Quân Cơ Xứ, CCBW, bản sao tấu triệp của Tôn Sĩ Nghị ngày mồng 8 tháng 7 năm Càn Long 53.

15. Trang Cát Phát, Sđd, tr.353

16. Ngươi Nguyễn Nhạc đuổi chủ làm loạn cương thường, vọng tưởng việc soán nghịch. Tổng đốc nghe tin đã đích thân đến đây, đã tâu lên đại hoàng đế điu động quan binh các tỉnh Vân Quí, Xuyên Quảng, Phúc Kiến vài mươi vạn, chia đường ra tiến đánh. Nguyễn Nhạc ngươi nếu không hi tội tự mình đổi mới, nghinh đón chủ củ trở về, bảo toàn gia quyến, lại dám quấy nhiễu thiên triều, đem nạp công vật.

Di mục các ngươi đã từng nhận quan chức của họ Lê, bỗng dưng trở mặt thờ kẻ thù, thay chúng gõ cửa quan cầu xin, thực đúng là kẻ vô liêm sỉ. Đúng ra ta phải bắt các ngươi ngay để xin hoàng thượng hạ chỉ đem ra chính pháp. Nhưng nghĩ rằng các ngươi chỉ là những di quan thấp kém, không đáng để trừng trị, vậy hãy mau mau trở về nói cho Nguyễn Nhạc biết rằng, hoạ phúc chỉ trong nháy mắt, các ngươi tự thu lấy.

Trang Cát Phát, Sđd, tr.353-4. Cung Trung Đáng, CCBW, bản sao tấu thư của Tôn Sĩ Nghị đề ngày mồng 8 tháng 7 năm Càn Long 53 [9- 8-1788]. Bản văn này cũng xuất hiện trong Khâm định An Nam kỷ lược [quyển II], Cố Cung Bác Vật viện, Hải Nam, Hải Nam xuất bản xã, 2000 (bản dịch Nguyễn Duy Chính, chưa xuất bản).

17. Quân Cơ Xứ, CCBVV. Trang Cát Phát, Sđd, tr.350.


Photo Album 2011-12-29




Viet_Lao_thai_ 20-12-2011_ 25-12-2011




Viet Lao thai

588. Viet - Laos-Thail_from Dec 20 - Dec 25, 2011

679.0 Hướng dẫn cài đặt AD RMS server ( Active Directory Rights Management Services) có trong Windows Server 2012.

Nguồn: https://mdungblog.wordpress.com/2018/06/21/simple-guide-huong-dan-cai-dat-ad-rms-windows-server-2012-r2/   Hôm nay mình xin giới thiệ...